Viết bởi Michele Johnson
Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng đáng kể đến sự nghiệp của các bà mẹ đi làm, đặc biệt là những người mẹ có con nhỏ. Theo dõi tình trạng công việc khi đại dịch bùng phát, Cục điều tra dân số Hoa Kỳ phát hiện có 3,5 triệu phụ nữ có con đã rời bỏ công việc trong những tháng đầu của cuộc khủng hoảng – xin nghỉ phép, mất việc hoặc hoàn toàn rời khỏi thị trường lao động. Đến tháng thứ hai của đại dịch, gần một nửa phụ nữ có con đến tuổi đi học không còn tích cực làm việc (Heggeness et al., 2021).
Trong nhiều gia đình, các vai trò trong gia đình và công việc được trả lương của người bố hay các cặp đôi đồng tính cũng bị gián đoạn do đại dịch, vì vậy vấn đề này không chỉ xảy ra với các bà mẹ có việc làm. Tuy nhiên, những người mẹ này có thể bị ảnh hưởng trầm trọng hơn. Cuộc khảo sát của New York Times (Miller, 2020) với 2.200 người trưởng thành vào đỉnh điểm của đợt đại dịch ban đầu phát hiện khoảng 80% phụ nữ trong các gia đình có con dưới 12 tuổi báo cáo họ chịu trách nhiệm hoàn toàn hoặc phần lớn công việc nhà và giáo dục con cái trong thời gian phong tỏa và 70% chịu trách nhiệm hoàn toàn hoặc phần lớn cho việc chăm sóc con cái.
Khi các trường học và nhà trẻ đóng cửa, nhiều bà mẹ đã buộc phải đảm nhận vai trò giáo viên, người chăm sóc trẻ, hay thậm chí là người lên kế hoạch cho các hoạt động vui chơi giải trí. Trước đại dịch, những người dư dả tài chính có đủ điều kiện trả tiền đã thuê người hỗ trợ bên ngoài làm những công việc này. Đối với những người khác, các vai trò này đã được các thành viên khác trong gia đình lớn đảm nhận, nhưng bây giờ có thể họ cũng đang phải đối mặt với thách thức do đại dịch của riêng mình.
Khi các vai trò nuôi dạy con cái và nội trợ của những bà mẹ đi làm trở nên lớn hơn trong suốt cuộc khủng hoảng đại dịch, những vai trò khác phải lùi lại để thích ứng với sự thay đổi. Một số bà mẹ đã giảm thời gian làm việc cho công việc được trả lương, chuyển sang làm việc bán thời gian hoặc nghỉ việc hoàn toàn (Khazan, 2021). Những người khác đã tạm dừng hoặc giảm các hoạt động cộng đồng và nhiều người không có thời gian cho sở thích hoặc chăm sóc bản thân. Thời điểm chuyển đổi và sự thay đổi vai trò này đã khiến một số bà mẹ đánh giá lại vai trò của công việc có trả lương trong cuộc sống của họ.
Một bài báo của McKinsey & Company (Huang et al., 2021) gọi đây là một năm không giống bất kỳ năm nào khác đối với những bà mẹ đi làm. Hiện tượng này, lần lượt có thể khiến năm nay và những tháng sắp tới trở thành “những năm chưa từng có tiền lệ” đối với các chuyên viên hướng nghiệp hỗ trợ những phụ nữ này.
Sử dụng Mô hình Cầu vồng cuộc sống của Super
Một công cụ cổ điển phù hợp với thời đại hiện nay là Mô hình Cầu vồng cuộc sống của Super (Super, 1980). Mô hình này dựa trên thuyết không gian sống và tuổi thọ của Super, lý giải rằng con người thường lần lượt trải qua tám vai trò ở các thời điểm khác nhau trong suốt cuộc đời họ: con cái, người học, giải trí, công dân, người lao động, cha mẹ, vợ/chồng và người nội trợ. Mặc dù những vai trò này có thể được thực hiện cùng một lúc, các vai trò đòi hỏi sự cam kết thời gian lớn nhất sẽ có xu hướng trở nên quan trọng nhất tại điểm đó trong cuộc đời một người. Khi được mô tả lại dưới dạng biểu đồ tròn, các chuyên viên hướng nghiệp có thể sử dụng phần không gian sống của Mô hình Cầu vồng cuộc sống như một công cụ đánh giá định tính (Okacha, 2001) giúp phụ nữ đánh giá lại vai trò của công việc có trả lương trong cuộc sống của họ sau đại dịch.
Hãy xem trường hợp của Jennifer, một bà mẹ có hai cậu con trai nhỏ đã từ chức Trưởng phòng marketing vào đầu đại dịch vì khó khăn trong việc cân đối giữa công việc toàn thời gian với việc chăm sóc và dạy con học tại nhà khi trường của chúng chuyển sang hình thức học từ xa. Mặc dù nhớ công việc nhưng cô thích dành thời gian với gia đình nhiều hơn và không muốn từ bỏ điều này. Cô đã gặp một nhà khai vấn nghề nghiệp để khám phá các lựa chọn cho vai trò sự nghiệp sau đại dịch. Bằng cách sử dụng Mô hình Cầu vồng cuộc sống, trước tiên, một nhà khai vấn nghề nghiệp có thể đánh giá các vai trò trước đại dịch, sau đó là các vai trò trong đại dịch, cuối cùng là các vai trò sau đại dịch.
Đánh giá: Các vai trò trước đại dịch
Để giúp thân chủ hiểu được các vai trò của họ có thể đã thay đổi thế nào do đại dịch, điều quan trọng là phải minh họa những vai trò của họ trước khi COVID-19 xảy ra. Nhà khai vấn của Jennifer yêu cầu cô tạo một biểu đồ tròn với mỗi phần thể hiện một trong các vai trò của Super, với kích thước mỗi phần phản ánh khoảng thời gian dành cho vai trò đó trước đại dịch. Sau đó, cô được yêu cầu chia sẻ:
- Ấn tượng tổng quan về biểu đồ
- Suy nghĩ về thời gian dành cho mỗi vai trò
- Những điều cô thích và không thích về các vai trò của cô
- Những thách thức cô đã đối mặt và cách vượt qua chúng
- Các cách những nguồn lực hỗ trợ bên ngoài đã giúp cô duy trì các vai trò này
Biểu đồ trước đại dịch của Jennifer phản ánh thời gian đã dành cho tất cả tám vai trò của Super. 55% thời gian cô đã dành cho công việc, và cô cho rằng tỷ lệ này là quá nhiều.
Đánh giá: Các vai trò trong đại dịch
Sau đó, Jennifer tạo một biểu đồ tương tự cho các vai trò của mình trong đại dịch và chia sẻ những hiểu biết sâu sắc cô nhận ra được từ việc thay đổi vai trò và ưu tiên của mình, đồng thời ghi chú cụ thể vai trò nào đã trở nên quan trọng hơn hoặc ít quan trọng hơn với cô. Biểu đồ đại dịch của Jennifer không bao gồm ba vai trò: người lao động, công dân và người học – vì cô không chỉ ngừng công việc có trả lương mà còn dừng hoạt động cộng đồng và lớp học cô đã tham gia tại trường cao đẳng địa phương. Theo biểu đồ, Jennifer đã dành khoảng 75% thời gian cho vai trò nuôi dạy con cái và nội trợ trong suốt đại dịch. Do chồng cô không còn phải đi làm xa nữa nên thời gian cô dành cho vai trò làm vợ đã tăng lên, một sự thay đổi mà cô rất thích.
Đánh giá: Các vai trò sau đại dịch
Cuối cùng, Jennifer tạo một biểu đồ phản ánh sự cân bằng lý tưởng trong cuộc sống sau đại dịch, giúp cô định hình được viễn cảnh và kế hoạch cho cuộc sống sau đại dịch.
Sau khi hoàn thành biểu đồ này, Jennifer suy ngẫm về sự khác biệt giữa ba biểu đồ, và nhà khai vấn nghề nghiệp đặt ra những câu hỏi như:
- Các biểu đồ minh họa mức độ thay đổi của công việc có trả lương trong cuộc sống của chị như thế nào?
- Chị có muốn làm việc ít hơn trước đây? Hay nhiều hơn?
- Những vai trò nào khác trong cuộc sống cần trở nên lớn hơn hoặc thu lại để thích ứng với sự thay đổi này?
- Chị cần thực hiện những bước gì để biến các vai trò trong cuộc sống ở biểu đồ lý tưởng thành hiện thực?
- Chị dự đoán mình phải đối mặt với những thách thức nào và làm sao để vượt qua chúng?
Jennifer nhận thấy vai trò người lao động của cô đã thay đổi từ việc chiếm phần lớn thời gian của mình trước đại dịch đến không còn chút thời gian nào, và cô thực sự muốn có một sự cân bằng ở giữa. Biểu đồ sau đại dịch của cô cũng thể hiện mong muốn vai trò làm vợ tiếp tục tăng lên và quay trở lại vai trò người học và công dân. Để thích ứng với những thay đổi này, Jennifer muốn dành khoảng 30% thời gian cho công việc có trả lương. Sau khi nói chuyện với chồng về cách họ có thể giảm chi tiêu, Jennifer cuối cùng quyết định tìm một công việc bán thời gian trong lĩnh vực của mình và ở gần nhà hơn.
Khủng hoảng và cơ hội
Một khủng hoảng thường đi đôi với cơ hội cho sự thay đổi. Trong đại dịch COVID-19, nhiều bà mẹ đã trải qua sự thay đổi trong các vai trò cuộc sống và nghề nghiệp, dẫn đến việc xem xét và đánh giá lại vai trò của công việc có trả lương trong cuộc sống của họ. Bằng cách sử dụng Mô hình Cầu vồng cuộc sống của Super như một công cụ đánh giá, các chuyên viên hướng nghiệp có thể hỗ trợ quá trình này.
Tham khảo
Heggeness, M. L., Fields, J., Garcia Trejo, Y.A., & Schulzetenberg, A. (2021, March 3). Moms, work and the pandemic: Tracking job losses for mothers of school-age children during a health crisis. The United States Census Bureau. https://www.census.gov/library/stories/2021/03/moms-work-and-the-pandemic.html
Huang, J., Krivkovich, A., Rambachan, I., & Yee, L. (2021, May 5). For mothers in the workplace, a year (and counting) like no other. McKinsey & Company. https://www.mckinsey.com/featured-insights/diversity-and-inclusion/for-mothers-in-the-workplace-a-year-and-counting-like-no-other
Khazan, O. (2021, May 2). The professional women who are leaning out. The Atlantic.https://www.theatlantic.com/politics/archive/2021/05/why-dont-more-american-moms-work-part-time/618741/
Miller, C. C. (2020, May 8). Nearly half of men say they do most of the home schooling. 3 percent of women agree. The New York Times.https://www.nytimes.com/2020/05/06/upshot/pandemic-chores-homeschooling-gender.html
Okocha, A. A. (2001, January 22-24). Facilitating career development through Super’s life career rainbow [Paper presentation]. NATCON 2001: 27th, Ottawa, Ontario, Canada.
Super, D. E. (1980). A life-span, life-space approach to career development. Journal of Vocational Behavior, 16, 282-298.
— Thông tin tác giả
Michele Johnson, M.A., C.P.C., là một Nhà khai vấn chuyên nghiệp được chứng nhận, đặc biệt quan tâm đến việc giúp đỡ phụ nữ trung niên tìm công việc ý nghĩa. Cô có bằng Thạc sĩ Tư vấn và chứng chỉ về Phát triển sự nghiệp cho người trưởng thành từ Trường Đại học New York. Hiện nay, Michele là một chuyên gia tham vấn nghề nghiệp ở Trung tâm Phụ nữ tại Cao đẳng Cộng đồng hạt Morris, Randolph, NJ. Bạn có thể liên hệ với cô qua địa chỉ email mj@michele-johnson.net hoặc tại https://www.linkedin.com/in/michelejohnson/
Người dịch: Lộc Như
Biên tập: Tâm Tình
Nguồn bài viết: https://www.ncda.org/aws/NCDA/pt/sd/news_article/407973/_PARENT/CC_layout_details/false
Photo by Ketut Subiyanto on Pexels


Bài viết liên quan: