Lưu trữ Gỡ rối – Hướng nghiệp Sông An https://huongnghiepsongan.com/chuyen-muc/suc-khoe-nghe-nghiep/go-roi/ Cứ đi để lối thành đường Sat, 05 Sep 2026 17:19:10 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.7 https://huongnghiepsongan.com/wp-content/uploads/2019/12/cropped-song-an-logo-32x32.jpg Lưu trữ Gỡ rối – Hướng nghiệp Sông An https://huongnghiepsongan.com/chuyen-muc/suc-khoe-nghe-nghiep/go-roi/ 32 32 Khi người đi làm thiếu định hướng phát triển nghề nghiệp https://huongnghiepsongan.com/khi-nguoi-di-lam-thieu-dinh-huong-phat-trien-nghe-nghiep/ Sat, 05 Sep 2026 17:18:44 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=33774 Trong tâm trí của nhiều người, con đường học vấn chính quy như 12 năm trên ghế nhà trường, học đại học danh tiếng, lấy bằng, đi làm đúng ngành, thậm chí là học thạc sĩ, được xem là công thức gần như chắc chắn để có một công việc ổn định và một mức ...

Bài viết Khi người đi làm thiếu định hướng phát triển nghề nghiệp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Trong tâm trí của nhiều người, con đường học vấn chính quy như 12 năm trên ghế nhà trường, học đại học danh tiếng, lấy bằng, đi làm đúng ngành, thậm chí là học thạc sĩ, được xem là công thức gần như chắc chắn để có một công việc ổn định và một mức lương tương xứng. Cụ thể là từ 2013 đến 2017, số người tốt nghiệp đại học tại Việt Nam tăng gần 50%, từ 205.572 lên 306.179; số tốt nghiệp thạc sĩ tăng gần gấp đôi, từ 17.361 lên 34.684 (Theo Báo cáo đánh giá đa chiều – OECD, 2020). Trong khi đó, số tốt nghiệp cao đẳng nghề, nhóm gắn trực tiếp với kỹ năng thực hành, lại giảm 17% cùng kỳ.

Khi bằng cấp không còn là tấm vé đảm bảo việc làm

Niềm tin đó đang bị thách thức bởi chính thực tế thị trường lao động. Năm 2017, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động trình độ đại học trở lên cao gấp 3,2 đến 3,9 lần các nhóm trình độ thấp hơn, và hơn 180.000 cử nhân thất nghiệp cùng năm đó khiến bằng thạc sĩ, thay vì là một lựa chọn có mục tiêu, trở thành lối thoát mặc định cho những người không biết làm gì tiếp theo (Theo nghiên cứu về Động lực học tập của sinh viên Việt Nam đối với các chương trình thạc sĩ, Tran, 2018).

Cùng với đó, vấn đề, không chỉ là thất nghiệp theo bằng cấp, mà là cả một thế hệ trẻ mắc kẹt trong khoảng cách giữa hệ thống đào tạo và thị trường lao động. Quý 3/2025, cả nước có khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi không có việc làm, không tham gia học tập hay đào tạo (NEET), chiếm 11,5% tổng số thanh niên cả nước, tăng thêm hơn 222.000 người so với quý trước (Cục Thống kê, 2025). Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên tại khu vực thành thị lên tới 12,4%, cao hơn khu vực nông thôn tới 5,56 điểm phần trăm (theo Cục Thống kê, 2025). Xu hướng này đã tăng dần trong suốt năm 2025: quý 2/2025 ghi nhận 1,35 triệu thanh niên NEET (10,1%), trước khi tăng lên 1,6 triệu người (11,5%) chỉ một quý sau đó (GSO, 2025).

Ngay cả bằng thạc sĩ, vốn được xem là “nâng cấp an toàn”, cũng không còn là “cánh cửa dĩ nhiên” được tuyển dụng. Tại Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm Gen Z có bằng thạc sĩ trở lên tăng từ 3% lên 5,8% chỉ trong nửa đầu năm 2025, cao hơn cả mức trung bình toàn quốc là 4,1% (St. Louis Fed, dẫn theo VietnamNet, 2025). Bằng cấp vẫn có giá trị thật ở nhiều ngành: lương khởi điểm cho ứng viên thạc sĩ, tiến sĩ tại Việt Nam dao động 10 đến 30 triệu đồng/tháng, so với 5 đến 10 triệu cho cử nhân (Tuổi Trẻ, 2023); tại Mỹ, 71% nhà tuyển dụng vẫn sẵn sàng trả lương cao hơn cho người có bằng thạc sĩ (CNBC, 2025). Điều này có nghĩa là giá trị tấm bằng không còn nằm trên mặt giấy, mà cần được thể hiện như cột mốc chiến lược cho mục tiêu nghề nghiệp, bổ trợ cho hồ sơ ứng tuyển cùng kinh nghiệm và năng lực thật của người đi làm.

Liệu có phải câu chuyện “con gà – quả trứng”: Người học cần ra quyết định khi chưa biết tương lai nghề nghiệp?

Câu trả lời phần lớn nằm ở giai đoạn trước khi bước vào thị trường lao động, khi nhiều người chọn ngành, chọn nghề mà chưa thực sự có định hướng cụ thể với mức độ hiểu mình, hiểu nghề nhất định. Theo nghiên cứu về Lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam được đăng trên Tạp chí Khoa học & Công nghệ (ĐH Kinh tế Quốc dân & Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2024), ảnh hưởng của bạn đồng trang lứa và ảnh hưởng nhận thức có tác động trực tiếp đến lựa chọn nghề nghiệp, đồng thời sự tự tin vào năng lực bản thân có quan hệ gián tiếp với lựa chọn nghề nghiệp thông qua kỳ vọng kết quả nghề nghiệp.

Khi được hỏi điều gì thực sự thúc đẩy quyết định nghề nghiệp, các khảo sát khác cho thấy động cơ khá phân tán: động cơ ứng tuyển hàng đầu của Gen Z (trong độ tuổi từ 1997 – 2012) tại Việt Nam là mong muốn học “kỹ năng mới” (32,1%), tiếp theo là “kiến thức mới” (22,6%), và chỉ đứng thứ ba là lương (18,9%) (Decision Lab, 2021). Điều này cho thấy nhu cầu phát triển bản thân là động lực thực sự, nhưng thường không được cụ thể hoá thành một lộ trình rõ ràng.

Một nghiên cứu định lượng khác, khảo sát sinh viên ngành Tài chính – Ngân hàng (Tạp chí Kinh tế – Tài chính, 2026), xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố đến quyết định chọn ngành như sau: yếu tố tác động mạnh nhất là “sự phù hợp nội tại”, tức sở thích, năng lực và hứng thú cá nhân; đứng sau là ảnh hưởng từ gia đình và xã hội; trong khi đặc điểm của nhà trường (uy tín, học phí, cơ sở vật chất) gần như không có tác động đáng kể. Phát hiện đáng chú ý nhất của nghiên cứu này: quyết định chọn ngành ban đầu không dự báo được việc một người có gắn bó lâu dài với ngành đó hay không. Điều duy nhất thực sự giữ chân một người là sự phù hợp nội tại được duy trì xuyên suốt quá trình học và làm việc, không phải quyết định đúng đắn tại một thời điểm.

Nói cách khác, vấn đề không nằm ở việc chọn sai ngành, nghề, mà ở việc người học, người đi làm chưa thực sự dừng lại để hiểu mình, hiểu nghề trước khi ra quyết định nghề nghiệp.

Khoảng cách giữa đào tạo và thực tế việc làm

Một biểu hiện rõ nét của khoảng cách này có thể thấy tại TP.HCM. Trong quý I/2024, lao động trình độ đại học trở lên chiếm 62,4% số người tìm việc, trong khi nhu cầu tuyển dụng dành cho nhóm này chỉ chiếm 21,3%. Ngược lại, lao động trình độ nghề chỉ chiếm 34,8% số người tìm việc nhưng chiếm tới 65,2% nhu cầu tuyển dụng (FALMI, dẫn theo Người Lao Động, 2024).

Thiếu định hướng ở đầu vào kéo theo một khoảng cách lớn hơn ở đầu ra: giữa những gì được đào tạo và những gì thị trường thực sự cần. Chương trình đào tạo đại học tại Việt Nam vẫn thiên về lý thuyết, thiếu cơ hội thực hành và học qua công việc thực tế. Theo bản tin “Học xong đại học không tìm được việc phù hợp: Hệ quả từ thiếu định hướng nghề nghiệp” từ VTV24, người học có độ trễ tới 4 năm học để cập nhật với thị trường lao động. Một nguyên nhân sâu xa hơn là “khoảng cách tín hiệu kỹ năng”: trong các thị trường mới nổi, kỹ năng mềm chiếm tới 25% trong top 20 kỹ năng nhà tuyển dụng cần, nhưng lại không lọt vào top 10 kỹ năng mà người trẻ tự khai trên hồ sơ của mình (LinkedIn & S4YE, 2019). Người lao động có thể có kỹ năng, nhưng không biết cách thể hiện nó theo cách thị trường nhìn nhận.

Thời đại đang thay đổi nhanh hơn tốc độ mà hệ thống đào tạo có thể thích ứng. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi trong thái độ học tập: thay vì học để đổi lấy một “kết quả” cố định, một tấm bằng, một mức lương được đảm bảo, một cảm giác an toàn, người đi làm cần học và làm việc với tâm thế trang bị cho mình sự vững vàng và khả năng linh hoạt thích nghi. Việc chuẩn bị định hướng không còn là một bước làm một lần “rồi thôi”, mà là một quá trình hiểu mình, hiểu nghề và không ngừng học hỏi để nâng cao năng lực.

Trong khoảng cách ấy, vẫn có một vài hiểu nhầm/khó khăn phổ biến đang diễn ra song song với người đi làm:

“Học thêm” chưa chắc giải quyết được vấn đề nghề nghiệp

Nhiều cử nhân thất nghiệp chọn học lên thạc sĩ như một giải pháp tạm thời để trì hoãn quyết định, thay vì một bước đi có tính toán (Giaoduc.net.vn, 2014; VnExpress, 2021). Ngay cả với những người đã có bằng cao, khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế vẫn tồn tại: 41% người có bằng thạc sĩ tại Mỹ từng từ chối một công việc vì mức lương không đủ bù đắp khoản vay học phí, có thể lên tới 62.000 USD, đã bỏ ra để lấy bằng (Indeed, dẫn theo Vietnamnet, 2025). Ở tầm doanh nghiệp, nghịch lý còn lớn hơn: dù thị trường “thừa” người có bằng cấp, 77% doanh nghiệp khu vực châu Á – Thái Bình Dương vẫn khó tìm được nhân tài có kỹ năng phù hợp (ManpowerGroup, 2025); tại Việt Nam, 81,6% doanh nghiệp gặp khó khi tuyển dụng vì thiếu ứng viên đúng chuyên môn (JobsGO, 2025).

Bẫy thu nhập tức thời khiến người đi làm khó đầu tư cho sự nghiệp dài hạn

Báo cáo phân tích hơn 580.000 tin tuyển dụng cho thấy số việc làm dành cho người mới tốt nghiệp (fresher) giảm tới 27,6%, trong khi nhu cầu tuyển dụng nhân sự có 1 đến 3 năm kinh nghiệm chiếm tới 64% tổng nhu cầu (JobOKO, 2025). Đến cuối năm 2025, fresher là cấp bậc duy nhất ghi nhận mức tuyển dụng giảm so với năm trước (-13%), trong khi nhóm dưới 1 năm kinh nghiệm lại chiếm tỷ lệ bị sa thải cao nhất (45%) (Tuổi Trẻ/JobOKO, 2025). Một khảo sát khác trên 678 doanh nghiệp hàng đầu xác nhận đây là “sự đứt gãy ngày càng sâu” giữa người tìm việc và nhà tuyển dụng (Talentnet-Mercer, 2025).

Để có kinh nghiệm, người trẻ phải chấp nhận công việc lương thấp, nhưng thị trường ngày càng khắt khe khiến thời gian “thỏa thuận giá trị lao động” kéo dài hơn dự kiến, nhiều người khó có đủ nguồn lực tài chính để trang trải cho một lộ trình dài hạn (trụ lại trong nghề). Trên bình diện toàn cầu, chỉ 32% người lao động cảm thấy tổ chức của họ tạo đủ cơ hội phát triển (Gallup, 2024-2025), cho thấy gánh nặng tự lo cho hướng đi dài hạn phần lớn đang đổ lên vai cá nhân.

Giải pháp từ chuyên gia: tìm định hướng trước khi chọn con đường

Khi gốc rễ vấn đề không phải là “học hay không học” mà là thiếu trọng tâm và sự chuẩn bị, giải pháp cũng không nằm ở việc chọn lựa giữa các phương án bên ngoài (học thạc sĩ, học khoá ngắn hạn, đổi ngành), mà bắt đầu từ hai nền tảng quan trọng: xác định rõ chính mình là ai và mình hướng tới điều gì, đồng thời giữ vững khả năng thích ứng khi thị trường thay đổi.

Tìm hiểu về chính mình để biết ta muốn đi về đâu

Sở thích, năng lực, tính cách và giá trị nghề nghiệp là những yếu tố cơ bản, có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự thành đạt trong nghề nghiệp của mỗi người. Vì vậy, theo Mô hình lý thuyết cây nghề nghiệp (Phoenix Ho, 2011), nó được coi là “gốc rễ” của “cây nghề nghiệp” và buộc mỗi người phải có năng lực thấu hiểu bản thân trước khi chọn nghề.

  • Sở thích – những gì bạn thích làm, những lĩnh vực khiến bạn hứng thú tự nhiên
  • Năng lực – khả năng bạn nắm bắt và tiếp thu kiến thức mới
  • Tính cách – những xu hướng suy nghĩ và hành động của bạn
  • Giá trị nghề nghiệp – những điều bạn coi là quan trọng trong công việc (lương, ý nghĩa xã hội, sự độc lập, v.v.)

Theo Mô hình chìa khoá xây dựng kế hoạch nghề (Phoenix Ho, 2011), điều cốt lõi nhất của mọi hành trình: hiểu mình là ai, hiểu mình đang hướng tới điều gì, biết cần làm gì để đi đến đó. Và khi chúng ta đã xác định được điểm đến của mình, sẽ luôn có vô vàn con đường để tới đó, không chỉ gói gọn trong việc “học hay không học”.

  1. Tôi là ai? – Hiểu rõ sở thích, tính cách, năng lực và giá trị nghề nghiệp của bản thân, chứ không phải một bức tranh mơ hồ do gia đình, xã hội, hay sợ hãi tạo ra.
  2. Tôi hướng tới điều gì? – Biết rõ mục tiêu sự nghiệp dựa trên sự hiểu biết về bản thân, chứ không phải theo phản xạ xã hội hay cạnh tranh với người khác. Mục tiêu này không cần phải cố định mãi mãi, nhưng nó cần rõ ràng ở thời điểm hiện tại.
  3. Tôi cần làm gì để đi tới đó? – Xác định được chiến lược cụ thể, từ việc học tiếp, tích lũy kinh nghiệm, phát triển kỹ năng, đến xây dựng mạng lưới, để bước bước tiến gần tới mục tiêu.

Mô hình chìa khoá khuyến khích một người dừng lại, tự đặt câu hỏi, và thực sự tìm hiểu bản thân trước khi đưa ra những quyết định lớn như học tiếp hay đổi hướng. Nó cũng giúp một người hiểu rằng khoảng cách giữa kỳ vọng của doanh nghiệp và năng lực của chính mình có thể được thu hẹp bằng cách chủ động phát triển những kỹ năng cụ thể gắn với mục tiêu, không phải bằng cách học thêm một bằng cấp mà không biết lý do.

Giữ vững sự chủ động trong thị trường biến động

Nhưng hiểu rõ bản thân và có một kế hoạch chỉ là nửa đầu của câu chuyện. Thế giới thay đổi nhanh hơn bất kỳ kế hoạch cá nhân nào, và không phải mọi cơ hội đều tới từ một con đường dự định sẵn. Lý thuyết Planned Happenstance (Lý thuyết ngẫu nhiên có kế hoạch) của Mitchell, Levin và Krumboltz (1999) từng được phát triển để giải thích cách mà những người có sự nghiệp phát triển tốt không chỉ tuân theo kế hoạch cứng nhắc, mà còn biết cách biến những sự kiện ngẫu nhiên, những cuộc gặp ngoài dự kiến, hay những cơ hội nảy sinh, thành bước tiến trong sự nghiệp.

Lý thuyết này nhấn mạnh vào việc kiến tạo và biến đổi các sự kiện ngoài dự kiến thành cơ hội học tập. Cụ thể, người đi làm hãy luôn cố gắng xây dựng và giữ vững cho mình các phẩm chất:

  1. Tò mò để khám phá các cơ hội học tập
  2. Kiên trì để đối phó với những trở ngại
  3. Linh hoạt để giải quyết vấn đề
  4. Lạc quan để tối đa hóa lợi ích từ các sự kiện ngoài kế hoạch

Tại sao lý thuyết này quan trọng trong bối cảnh Việt Nam hiện nay? Bởi vì thị trường lao động đang chứng kiến sự biến động không lường trước được: tự động hóa, AI, sự dịch chuyển cơ cấu nhu cầu lao động khiến những “con đường chắc chắn” không còn chắc chắn nữa. Các ngành “hot” ngày hôm qua có thể suy giảm ngày hôm nay. Kỹ năng được coi là “an toàn” có thể trở nên lỗi thời. Trong bối cảnh này, một kế hoạch tuyệt đối không thể bảo vệ một người; thay vào đó, khả năng thích ứng, học hỏi liên tục và sẵn sàng thay đổi hướng là những tài sản thực sự quý giá.

 

Lý thuyết chìa khoá (hiểu mình) và Planned Happenstance (thích ứng với thị trường) là hai mặt của cùng một chiến lược sự nghiệp hiệu quả. Mô hình chìa khoá cung cấp trọng tâm, hướng đi, mục tiêu – những gì bạn biết về bản thân và những gì bạn muốn. Planned Happenstance cung cấp tính chủ động, linh hoạt, khả năng học hỏi – những gì giúp bạn nắm bắt cơ hội, xử lý thất bại, và điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết.

Thư gửi người đang đứng giữa hành trình

Định hướng phát triển nghề nghiệp không phải chuyện “ngày một ngày hai”, hay là một bản kế hoạch ta có thể ngồi làm trong một buổi tối. Đó là cả một quãng đường nơi bạn phải tìm cho bản thân mình một khoảng lặng để nhìn lại, đối diện và cho phép mình được nâng đỡ, hỗ trợ khi cần.

Chúng ta đi con đường nghề nghiệp của mình không phải để đua “với ai”, hay chứng tỏ “với ai”, mà là để chính mình được bình an với mỗi quyết định, lựa chọn và sẵn lòng cố hết sức mình với lựa chọn nghề nghiệp của mình. Có một định hướng cũng không có nghĩa là đóng khung bản thân vào một con đường nhất định, mà cho phép mình chuẩn bị cho cơ hội để tiến lên, hoà hợp và vững vàng trong cuộc sống.

Tài liệu tham khảo

  1. Cục Thống kê (Bộ Tài chính). (2025, October 6). Thông cáo báo chí tình hình lao động, việc làm quý III và 9 tháng năm 2025
  2. CNBC. (2025, May 30). Master’s degree holders earn more, but is it worth it?
  3. Decision Lab. (2021). Gen Z & the workplace in Vietnam [Báo cáo].
  4. Gallup. (2024-2025). State of the global workplace report.
  5. Giaoduc.net.vn. (2014, August 15). Cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp, không việc gì phải hốt hoảng.
  6. General Statistics Office of Vietnam (GSO). (2025, July). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2025.
  7. JobOKO. (2025). Báo cáo thị trường tuyển dụng 2025.
  8. JobsGO. (2025). Báo cáo khảo sát tuyển dụng doanh nghiệp Việt Nam 2025.
  9. Krumboltz, J. D. (2009). The happenstance learning theory. Journal of Career Assessment, 17(2), 135-154.
  10. LinkedIn, & Solutions for Youth Employment (S4YE). (2019). Skills gap or signalling gap? Insights from LinkedIn in emerging economies. Dẫn trong OECD (2020).
  11. Lương, H. T., & Nguyễn, T. T. (2026, June 22). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và duy trì học ngành Tài chính – Ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Công nghệ Đông Á. Tạp chí Kinh tế – Tài chính.
  12. ManpowerGroup. (2025). Talent shortage survey, Asia Pacific.
  13. Mitchell, K. E., Levin, A. S., & Krumboltz, J. D. (1999). Planned happenstance: Constructing unexpected career opportunities. Journal of Counseling & Development, 77(2), 115-124.
  14. Nghia, T. (2018). The skills gap of Vietnamese graduates and final-year university students. Dẫn trong OECD (2020).
  15. Người Lao Động. (2024, April 3). Lao động có trình độ mất việc chiếm tỉ lệ khá cao.
  16. Nhung, H. (2025, July 14). Thạc sĩ lạc lối giữa thị trường việc làm mới. Báo Đại biểu Nhân dân.
  17. OECD (2020), Multi-dimensional Review of Viet Nam: Towards an Integrated, Transparent and Sustainable Economy, OECD Development Pathways, OECD Publishing, Paris.
  18. Talentnet-Mercer. (2025). Báo cáo lương và thị trường lao động 2025.
  19. Tran, L. T. (2018). Vietnamese students’ motivations for pursuing master’s study. Journal of Further and Higher Education.
  20. Tuổi Trẻ. (2023, December 21). Mức lương khởi điểm đại học 5-10 triệu đồng, thạc sĩ và tiến sĩ 10-30 triệu đồng.
  21. Tuổi Trẻ. (2025, December 26). Báo cáo lương và việc làm: Nhiều ngành từng “hot” bị giảm nhiệt.
  22. VietnamNet. (2025, August 13). Thạc sĩ gửi 60 hồ sơ một tháng vẫn thất nghiệp, bằng đại học còn giá trị?
  23. VietnamNet. (2025, June 5-8). Gần 9.300 người xin trợ cấp thất nghiệp ở TP.HCM có trình độ đại học trở lên.
  24. VnExpress. (2021, September 30). Thất nghiệp học thạc sĩ. 
  25. VTV24. (2026, April 18). Học xong đại học không tìm được việc phù hợp: Hệ quả từ thiếu định hướng nghề nghiệp [Video]. YouTube.
  26. Đỗ, H. N., Vũ, N. H. N., Trần, H. A., Nguyễn, Q. C., Hà, M. C., Nguyễn, N. M. N., & Nguyễn, T. Q. (2024). Lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, 22(4), 34–39.
  27. Hướng nghiệp Sông An. (2022, June 14). Tìm đường khi mới ra trường.

Bài viết Khi người đi làm thiếu định hướng phát triển nghề nghiệp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
“Hiểu mình” để không sụp đổ trong kỷ nguyên nghề nghiệp phi tuyến tính https://huongnghiepsongan.com/hieu-minh-de-khong-sup-do-trong-ky-nguyen-nghe-nghiep-phi-tuyen-tinh/ Sat, 05 Sep 2026 16:14:18 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=33756 Sáng thứ Hai đầu tiên sau khi nghỉ việc, một người vẫn pha một ly cà phê và mở laptop theo thói quen rồi lại đóng xuống vì không biết phải bắt đầu từ đâu. Ở một nơi khác, có người vẫn đều đặn đi làm nhưng mỗi sáng thức dậy đều mang theo một ...

Bài viết “Hiểu mình” để không sụp đổ trong kỷ nguyên nghề nghiệp phi tuyến tính đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Sáng thứ Hai đầu tiên sau khi nghỉ việc, một người vẫn pha một ly cà phê và mở laptop theo thói quen rồi lại đóng xuống vì không biết phải bắt đầu từ đâu. Ở một nơi khác, có người vẫn đều đặn đi làm nhưng mỗi sáng thức dậy đều mang theo một câu hỏi mơ hồ không tên. Có người đã nhìn thấy một hướng đi mới nhưng vẫn chưa thể rời khỏi vị trí hiện tại, như thể có một sợi dây vô hình đang giữ chân lại. Lại có người vừa chuyển sang một công việc “tốt hơn”, nhưng lại thấy mình xa lạ với chính mình hơn trước.

Điều họ có chung là một khoảng trống khó gọi tên. Nó lộ ra khi ngập ngừng trước câu hỏi: “Dạo này làm gì rồi?”, khi không biết phải viết gì ở mục tiêu nghề nghiệp trong CV, hay khi nhận ra cả một buổi sáng trôi qua mà vẫn chưa tìm được điều gì thực sự quan trọng để bắt đầu.
Đằng sau những khoảnh khắc ấy là một câu hỏi ít khi được nói thành lời: “Nếu không còn gắn với công việc này – dù là vì mất nó, rời khỏi nó, thay nó, hay chỉ đơn giản là không còn nhận ra mình trong nó – thì mình là ai?”

I. Tôi đang gặp chuyện gì vậy?

Trạng thái ấy thường được gọi chung là khủng hoảng nghề nghiệp. Nhưng có lẽ thứ đang thực sự lung lay không chỉ là công việc, mà còn là cách một người hiểu về chính mình.

Một trong những điều khiến thất nghiệp hay bất ổn nghề nghiệp trở nên khó đối diện không chỉ là sự gián đoạn về thu nhập. Theo nhà tâm lý học xã hội Marie Jahoda (1981, 1982, 1997), công việc còn mang lại nhiều lợi ích tiềm ẩn vượt lên trên giá trị kinh tế: một lịch trình và nhịp độ sinh hoạt cho cuộc sống hằng ngày, cảm giác mình có ích, các mối quan hệ xã hội, vị thế và sự công nhận từ cộng đồng. Chính những yếu tố này góp phần tạo nên cảm giác về năng lực, cảm giác được thuộc về và ý nghĩa trong cuộc sống.

Trong xã hội hiện đại, nghề nghiệp đã vượt khỏi định nghĩa của một công cụ mưu sinh thuần túy. Với nhiều người, công việc trở thành một phần quan trọng trong cách định nghĩa bản thân và là câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?”. Chính vì vậy, khi hành trình sự nghiệp bị gián đoạn vì bất kỳ lý do gì (sa thải, kiệt sức, hay quyết định dừng lại), điều bắt đầu lung lay không chỉ là lịch làm việc hay tài khoản ngân hàng. Đó còn là sự khủng hoảng về bản sắc, sự lạc lối trong việc định vị giá trị bản thân và sự hoang mang về vị trí của mình trong xã hội.

Trong bối cảnh đó, những biến động nghề nghiệp rất dễ được trải nghiệm như một thất bại của bản thân, mà quên rằng cảm giác lạc lối đó chỉ là phản ứng rất con người khi một vai trò từng gắn bó sâu sắc bỗng chốc biến mất.

II. Kỷ nguyên nghề nghiệp phi tuyến tính khiến điều này xảy ra thường xuyên hơn

Nếu nhìn lại thế kỷ trước, phần lớn chúng ta lớn lên với một hình dung khá rõ ràng về sự nghiệp: đi học, tìm một công việc ổn định, tích lũy kinh nghiệm, thăng tiến và nghỉ hưu. Dù không phải ai cũng đi trọn vẹn lộ trình ấy, nó vẫn đóng vai trò như một tấm bản đồ chung, nơi thành công được đo bằng khả năng tiến lên trên một chiếc thang nghề nghiệp tuyến tính.

Nhưng tấm bản đồ đó đang dần mất hiệu lực.

Geoff Curtis, cựu Phó Chủ tịch Điều hành tại Horizon Therapeutics với gần 30 năm kinh nghiệm, từng chia sẻ trên tờ Fortune rằng: Sau khi công ty bị mua lại, ông không chỉ mất đi một vị trí công việc mà còn “mất đi cái giàn giáo đã nâng đỡ bản sắc nghề nghiệp của mình.” Điều đáng suy ngẫm là Curtis không mất vai trò vì thiếu năng lực hay mắc sai lầm. Vai trò ấy biến mất đơn giản vì cấu trúc doanh nghiệp thay đổi.

Câu chuyện của Curtis không còn là một trường hợp cá biệt. Những làn sóng công nghệ và biến động kinh tế đang làm thay đổi cấu trúc của thị trường lao động. Báo cáo The Future of Jobs 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) dự báo khoảng 39% kỹ năng cốt lõi của người lao động sẽ thay đổi hoặc trở nên lỗi thời trong giai đoạn 2025-2030, kéo theo nhu cầu tái đào tạo và thích nghi ở quy mô lớn. Trong bối cảnh đó, việc chuyển việc, chuyển ngành hay phải học lại từ đầu không còn là ngoại lệ mà đang dần trở thành một phần tất yếu của đời sống nghề nghiệp.

Điều nghịch lý là kỳ vọng của xã hội lại thay đổi chậm hơn nhiều so với thực tế của thị trường lao động. Những khoảng dừng, những lần rẽ ngang hay những giai đoạn phải bắt đầu lại vẫn dễ bị xem như dấu hiệu của thất bại, thay vì được nhìn nhận như một phần tự nhiên của một hành trình nhiều biến động. Chính khoảng cách giữa kỳ vọng tuyến tính và thực tế phi tuyến tính đã tạo ra áp lực tâm lý cho nhiều người lao động. Trong không ít trường hợp, điều đang gặp trục trặc không phải là năng lực của cá nhân, mà là hệ quy chiếu cũ mà họ và xã hội vẫn đang dùng để đánh giá chính mình.

III. Vùng giao nhau giữa trật tự và hỗn loạn

Trong những giai đoạn chuyển đổi nghề nghiệp, có một trạng thái xuất hiện khá thường xuyên: cảm giác lạc lõng, không còn thuộc về nơi mình từng gắn bó, nhưng cũng chưa thuộc về bất cứ nơi nào khác.

Có một thuật ngữ để gọi tên trạng thái “ở giữa” này: Liminality (tạm dịch: trạng thái trung gian). Đó là khoảng trống chuyển tiếp khi một vai trò hay bản sắc cũ đã khép lại, còn vai trò mới vẫn chưa kịp hình thành. Bản thân trạng thái này không phải là điều bất thường, mà ngược lại, là một phần tự nhiên của mọi quá trình chuyển đổi. Có lẽ, điều khiến nhiều người kiệt sức không hẳn là sự hoang mang, mà là cảm giác mình đáng lẽ không nên hoang mang như thế.

Chúng ta được dạy rất nhiều về cách đặt mục tiêu, lập kế hoạch và theo đuổi thành công, nhưng lại ít khi được chuẩn bị cho những giai đoạn mà câu trả lời chưa xuất hiện. Chúng ta biết cách chúc mừng những khởi đầu mới và tôn vinh những thành tựu rõ ràng, nhưng hiếm khi tạo ra đủ không gian để cá nhân có thể thừa nhận rằng mình đang hoang mang và lạc lối. Vì vậy, không ít người chọn cách im lặng, cố gồng mình đưa ra những câu trả lời chắc chắn khi chính họ còn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Càng thu mình lại, họ càng ít có cơ hội nhận được sự nâng đỡ từ những người xung quanh. Sự hoang mang vì thế không giảm đi mà ngày càng lớn hơn.

Ở cấp độ hệ thống, mô hình Chaordic Path (tạm dịch: con đường hỗn loạn – trật tự) mang đến một cách diễn giải khác cho trải nghiệm này. Thay vì xem sự phát triển là một đường thẳng đơn điệu, mô hình này chỉ ra rằng những thay đổi bền vững luôn diễn ra ở vùng ranh giới giữa “trật tự” (order) và “hỗn loạn” (chaos). Đó là nơi những khuôn khổ cũ không còn đủ sức giải quyết những vấn đề mới, còn những khuôn khổ mới vẫn đang hình thành.

Nhưng Chaordic Path không khuyến khích chúng ta bám chặt lấy chiếc phao trật tự cũ, cũng không cổ xúy việc lao vào hỗn loạn bằng mọi giá. Chính khoảng không gian ở giữa – nơi chúng ta học cách chấp nhận sự mơ hồ nhưng vẫn không ngừng quan sát, học hỏi và kết nối – mới là mảnh đất cho những tiềm năng mới nảy mầm.

Góc nhìn này có thể không khiến sự bất an biến mất ngay lập tức, nhưng nó cho bạn một tâm thế lành mạnh và trung dung hơn để đối diện. Sự hoang mang trong những giai đoạn chuyển đổi không nhất thiết là dấu hiệu của sự suy sụp. Đó có thể là tín hiệu cho thấy một phiên bản mới của bạn đang thai nghén và thành hình. Điều cần thiết lúc này không phải là vội vàng tháo chạy khỏi sự bất định bằng mọi giá, mà là đủ kiên nhẫn để ở lại, để tiến trình chuyển đổi có đủ thời gian và không gian để tự hoàn thiện.

IV. Vấn đề không nằm hoàn toàn ở bạn

Khi đối diện với biến động nghề nghiệp, phản xạ đầu tiên của nhiều người là tìm nguyên nhân ở chính mình. Họ tự hỏi: “Mình có chọn sai nghề không? Mình có thiếu năng lực không? Mình chưa hiểu bản thân đủ rõ chăng?” Nhưng nếu nhìn rộng hơn, trải nghiệm nghề nghiệp của một con người chưa bao giờ chỉ được quyết định bởi những đặc điểm cá nhân.

Khung lý thuyết hệ thống đề xuất một cách nhìn khác: sự nghiệp là kết quả của sự tương tác liên tục giữa nhiều lớp hệ thống. Hãy thử hình dung một người đang cân nhắc nghỉ việc:

  • Ở hệ thống cá nhân: Họ có thể đã cạn kiệt năng lượng, không còn tìm thấy ý nghĩa trong công việc hay sự đồng điệu với tổ chức.
  • Ở hệ thống xã hội: Họ đồng thời là trụ cột tài chính của gia đình, mang theo những cam kết với bạn đời, hoặc gánh trên vai trách nhiệm với đồng nghiệp và đội nhóm.
  • Ở hệ thống môi trường – xã hội: Bao quanh họ là một thị trường lao động đầy biến động, một ngành nghề đang bị AI và công nghệ tái định hình, cùng những định kiến về một lộ trình ổn định mà xã hội vẫn mặc định là thước đo của thành công.

Nhìn từ lăng kính đó, “hiểu mình” không còn gói gọn trong việc gọi tên điểm mạnh, điểm yếu hay đam mê của bản thân. Quan trọng hơn, đó còn là hiểu mình đang đứng ở đâu trong hệ thống: điều gì đang nâng đỡ mình, điều gì đang tạo ra áp lực, và mình đang có những nguồn lực nào để đưa ra lựa chọn tiếp theo. Khung lý thuyết hệ thống không mang đến một lời giải cho khủng hoảng nghề nghiệp, nhưng mang lại một cách đặt câu hỏi khác. Thay vì tự trách: “Mình đang bị làm sao vậy?”, mỗi người có thể bắt đầu bình tâm nhìn nhận: “Những lực tác động nào đang xảy ra và ảnh hưởng đến mình?”

Đôi khi, chỉ riêng sự thay đổi trong cách nhìn ấy cũng đủ giúp một người bớt đi cảm giác tội lỗi và tự trách – điều vốn dĩ còn nghiêm trọng và gây đau đớn về tinh thần hơn cả chính cuộc khủng hoảng nghề nghiệp ngoài kia. Bởi điều họ đang trải qua có thể không phải là thất bại của một cá nhân, mà là kết quả của nhiều lực tác động giao thoa cùng một thời điểm.

V. Khi chưa phải lúc để đưa ra một quyết định lớn

“Vậy mình nên làm gì tiếp theo?”

Câu hỏi đến như một phản xạ tự nhiên sau khi chúng ta hiểu điều gì đang diễn ra với mình và đang tác động đến mình. Đó là một câu hỏi chính đáng, nhưng đôi khi, chưa phải là câu hỏi quan trọng nhất. Không ít người biết rõ công việc hiện tại đang bào mòn mình. Họ nhận ra mình cần thay đổi, nhưng vẫn chưa thể nghỉ việc hay chuyển hướng. Điều họ thiếu không hẳn là ý chí.

Một số nghiên cứu cho thấy con người không phải lúc nào cũng ở trong cùng một trạng thái sẵn sàng để học hỏi, thích nghi và ra quyết định (Siegel, 1999; Southwick & Charney, 2018). Khái niệm “Vùng phục hồi” (resilience zone) mô tả khoảng trạng thái mà ở đó hệ thần kinh vẫn đủ ổn định để xử lý thông tin, điều chỉnh cảm xúc và tư duy linh hoạt. Khi căng thẳng kéo dài vượt ngưỡng, nó sẽ đẩy một người ra khỏi vùng này. Lúc đó, cơ thể sẽ ưu tiên duy trì sự an toàn hơn là những quá trình nhận thức phức tạp. Yêu cầu bản thân phải tìm ra câu trả lời cho tương lai hay tái thiết kế cuộc đời ngay trong giai đoạn này cũng giống như bắt một vận động viên phải bước ngay vào một chặng đua mới ngay khi vừa chạy xong một cuộc marathon. Điều đang thiếu lúc này không hẳn là quyết tâm, mà là những nguồn lực tâm lý và sinh lý để thích nghi.

Chấp nhận điều này không đồng nghĩa với việc dừng mọi hành động. Nghỉ ngơi, tìm kiếm sự hỗ trợ, giảm bớt áp lực hay đơn giản là dành thêm thời gian để quan sát chính mình đều có thể là những hành động phù hợp với trạng thái hiện tại. Vấn đề không nằm ở việc có hành động hay không, mà ở việc hành động nào phù hợp với nguồn lực mà mình đang có để đưa cơ thể và tâm trí quay trở lại “Vùng phục hồi”.

Vì vậy, trong những giai đoạn chuyển đổi, câu hỏi quan trọng đôi khi lại là: “Mình còn đủ sức để làm bất cứ điều gì lớn lao vào lúc này hay không?” Đôi khi, bước đi đúng đắn nhất không nhất thiết phải là bước đi nhanh nhất, mà là bước đi mà bạn có đủ sức để đi một cách vững vàng.

VI. Thử nghiệm trước, thay vì tìm một câu trả lời chắc chắn

Nếu có một áp lực vô hình xuất hiện trong hầu hết các cuộc khủng hoảng nghề nghiệp, thì đó có lẽ là việc phải tìm ra “câu trả lời đúng”: Đâu là công việc đúng? Đâu là ngành nghề đúng? Đâu mới là con người thật của mình? Chúng ta thường bị mắc kẹt vào niềm tin rằng phải thấu suốt mọi thứ trước khi hành động, bao gồm việc hiểu rõ chính mình. Nhưng thực tế của đời sống nghề nghiệp hiện đại lại vận hành theo chiều ngược lại.

Nghiên cứu về chuyển đổi nghề nghiệp của Herminia Ibarra cho rằng con người hiếm khi khám phá bản sắc mới chỉ bằng cách ngồi yên suy ngẫm. Điều giúp họ hiểu mình hơn thường là quá trình thử nghiệm những vai trò mới, tiếp xúc với những môi trường mới và trải nghiệm những cách sống khác nhau. Bà gọi đó là quá trình xây dựng Provisional Selves – những “bản ngã thử nghiệm”. Theo cách nhìn này, bản sắc không phải là một thực thể cố định đang chờ được khám phá, mà liên tục được hình thành trong quá trình con người lựa chọn, hành động và tương tác với thế giới. Nói cách khác, nhiều khi chúng ta không hành động vì đã hiểu mình, mà ngược lại, chính việc hành động mới giúp chúng ta dần hiểu mình hơn.

Đó cũng là lý do ngày càng nhiều người lựa chọn xây dựng một “sự nghiệp đa ngành nghề” (Portfolio Career), như một cách để mở rộng trải nghiệm nghề nghiệp và giảm sự phụ thuộc của bản sắc cá nhân vào một vai trò duy nhất. Mỗi vai trò không chỉ mang lại một nguồn thu nhập khác nhau mà còn mở ra những cách khác nhau để hiểu về chính mình.

Điều đó không có nghĩa là ai cũng cần chuyển ngành hay xây dựng một sự nghiệp đa ngành nghề. Giá trị cốt lõi nằm ở sự thay đổi trong cách tiếp cận. Thay vì cố gắng đi tìm một câu trả lời hoàn hảo, hãy bắt đầu bằng những câu hỏi thực tế và vừa sức hơn: “Điều gì đáng để thử nghiệm tiếp theo? Cuộc trò chuyện nào đáng để bắt đầu? Kỹ năng nào đáng để học thêm? Môi trường nào đáng để dấn thân trải nghiệm?”

Trong một thế giới đầy bất định, sự rõ ràng hiếm khi xuất hiện trước hành động. Phần lớn thời gian, nó chỉ dần hiện ra khi con người đủ can đảm bước tiếp, từng bước một.

Thư gửi người đang đứng giữa hành trình

Nếu bạn đang đọc đến những dòng này trong một giai đoạn mà mọi thứ trở nên mờ mịt hơn bình thường, thì không sao cả nếu hôm nay bạn vẫn chưa có câu trả lời.

Chúng ta từng tin vào một lộ trình sẽ gắn bó nhiều năm, từng nghĩ rằng tương lai đã có một hình hài rõ ràng. Rồi một ngày, thực tại thay đổi và những câu trả lời từng rất chắc chắn bỗng không còn phù hợp nữa. Sự đứt gãy đó không phải vì chúng ta yếu đuối hay thiếu kiên trì, mà bởi thế giới nghề nghiệp đang thay đổi nhanh và phức tạp hơn rất nhiều so với trước đây.

Có thể, điều quan trọng nhất vào lúc này chỉ là chấp nhận rằng bạn đang ở trong một giai đoạn chuyển tiếp, và rằng nỗi hoang mang bạn đang có không phải là bằng chứng cho thấy vấn đề ở bản thân bạn.

Có lẽ rồi sẽ đến lúc, những mảnh ghép rời rạc và ngổn ngang của ngày hôm nay dần kết nối lại thành một chương câu chuyện có ý nghĩa. Nhưng trước khi điều đó đến, hy vọng bạn sẽ đủ kiên nhẫn với chính mình để hồi phục khi cần, để lắng nghe mình nhiều hơn và để tin rằng mỗi bước đi, dù nhỏ đến đâu, vẫn đang góp phần định hình con người mà mình sẽ trở thành.

Đôi khi, hành trình sự nghiệp không phải là cuộc tìm kiếm một con đường thảnh thơi và chắc chắn, mà là học cách tiếp tục bước đi một cách vững chãi, ngay cả khi con đường ấy chỉ dần hiện ra sau mỗi dấu chân của chúng ta.

Cơ sở lý thuyết

  1. Patton & McMahon. Systems theory framework.
  2. Pryor, R. G. L., & Bright, J. M. Chaos theory of careers.
  3. Jahoda. Latent Deprivation Model.
  4. Dee Hock. Chaordic Path.

Các nguồn tham khảo:

  1. Curtis, G. (2026, April 6). AI job loss is leaving professionals stranded in “professional purgatory.” Fortune.
  2. Paul KI, Scholl H, Moser K, Zechmann A, Batinic B (2023). Employment status, psychological needs, and mental health: Meta-analytic findings concerning the latent deprivation model. Front. Psychol.
  3. World Economic Forum. (2025). The future of jobs report 2025. World Economic Forum.
  4. Ibarra, H. (2023). Why career transition is so hard—and how to manage it better.
  5. Picchio, M., & Ubaldi, M. (2022). Unemployment and health: A meta-analysis (IZA Discussion Paper No. 15433). Institute of Labor Economics (IZA).
  6. Thomassen, B. (2014). Victor Turner and liminality: An introduction. In B. Thomassen (Ed.), Liminality and the modern: Living through the in-between (pp. 89–107). Ashgate.
  7. Grabbe, L., Duva, I. M., & Nicholson, W. C. (2023). The Community Resiliency Model, an interoceptive awareness tool to support population mental wellness. Cambridge Prisms: Global Mental Health, 10, e43.
  8. Siegel, D. J. (1999). The developing mind: Toward a neurobiology of interpersonal experience. Guilford Press.
  9. Southwick, S. M., & Charney, D. S. (2018). What is resilience? In Resilience: The science of mastering life’s greatest challenges (2nd ed., pp. 1–34). Cambridge University Press.

Bài viết “Hiểu mình” để không sụp đổ trong kỷ nguyên nghề nghiệp phi tuyến tính đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Kì nghỉ thai sản: Khi niềm hạnh phúc cá nhân trở thành nỗi lo phát triển nghề nghiệp https://huongnghiepsongan.com/ki-nghi-thai-san-khi-niem-hanh-phuc-ca-nhan-tro-thanh-noi-lo-phat-trien-nghe-nghiep/ Sat, 05 Sep 2026 09:42:38 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=33740 “Nghỉ thai sản và bị thay thế mọi người ạ.” “Khi có gia đình thì người phụ nữ được kì vọng phải sinh con. Nhưng đi phỏng vấn thì công ty bắt kí cam kết 2 năm không đẻ mới được vào làm.” “Mình cảm thấy bị bất lực vì trước giờ đang tự do ...

Bài viết Kì nghỉ thai sản: Khi niềm hạnh phúc cá nhân trở thành nỗi lo phát triển nghề nghiệp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
“Nghỉ thai sản và bị thay thế mọi người ạ.”

“Khi có gia đình thì người phụ nữ được kì vọng phải sinh con. Nhưng đi phỏng vấn thì công ty bắt kí cam kết 2 năm không đẻ mới được vào làm.”

“Mình cảm thấy bị bất lực vì trước giờ đang tự do bay nhảy. Giờ mình cảm thấy mình chậm hơn và có phần bị bỏ lại. Mình đang nghĩ đến cả chuyện nghỉ việc để có công việc nhẹ nhàng hơn đảm bảo sức khoẻ và thời gian cho con.”

Trong bối cảnh phát triển kinh tế, chính sách thai sản ngày càng được xem là một phương án quan trọng nhằm đảm bảo bình đẳng giới và bảo vệ quyền lợi người lao động. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có chính sách thai sản nhân văn trong khu vực, với quy định 6 tháng nghỉ thai sản hưởng bảo hiểm xã hội và các chính sách khác sau nghỉ thai sản để hỗ trợ người lao động cân bằng thời gian cho con nhỏ.

Tuy nhiên, người lao động nữ cảm thấy khó khăn để quay lại công việc và phát triển sự nghiệp một cách bền vững.

Bức tranh chính sách: Việt Nam và thế giới

Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nữ tại Việt Nam được nghỉ thai sản 6 tháng – một trong những thời gian nghỉ dành cho mẹ thuộc nhóm dài nhất khu vực châu Á. Hiện đã có đề xuất nâng lên 7 tháng cho trường hợp sinh con thứ hai, dự kiến áp dụng từ tháng 7/2026. Trong tổng thời gian này, người mẹ được nghỉ trước sinh tối đa 2 tháng. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều phụ nữ chọn cố gắng đi làm sát ngày sinh để dành trọn 6 tháng ở bên con sau khi bé chào đời – một chiến lược đánh đổi giữa sức khỏe thai kỳ và thời gian chăm sóc trẻ sơ sinh. Sau khi trở lại làm việc, lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng được hưởng 60 phút mỗi ngày có lương để nghỉ ngơi hoặc cho con bú.

Về phía người cha, chính sách hiện hành quy định thời gian nghỉ từ 5 đến 14 ngày làm việc tùy hình thức sinh (sinh thường, sinh mổ, sinh đôi, v.v.). Con số này khiêm tốn so với mặt bằng quốc tế, khiến vai trò hỗ trợ của người cha trong giai đoạn đầu sau sinh còn hạn chế và phần lớn gánh nặng chăm sóc vẫn dồn lên vai người mẹ.

Một điểm cần lưu ý: toàn bộ chế độ thai sản Việt Nam phụ thuộc vào việc tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc. Người lao động phải đóng BHXH đủ 6 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi sinh mới được hưởng đầy đủ quyền lợi.

Đặt trong bối cảnh toàn cầu, mỗi khu vực có một mô hình khác nhau. Châu Âu xây dựng hệ thống toàn diện với nghỉ thai sản cho mẹ, nghỉ riêng cho cha, và thời gian nghỉ phép chăm con (parental leave) dài có thể chia sẻ giữa hai vợ chồng. Đức có hệ thống ba tầng linh hoạt: nghỉ bắt buộc 6 tuần trước sinh và 8 tuần sau sinh, hưởng 100% lương, sau đó cha mẹ được nhận trợ cấp nuôi con lên tới 65-67% thu nhập, ngoài ra còn có nghỉ không lương nhưng bảo lưu công việc đến 3 năm cho một cặp cha mẹ, có thể chia làm nhiều đợt đến khi con 8 tuổi. Mỹ ở thái cực ngược lại: không có quy định liên bang về nghỉ thai sản có lương, chỉ bảo đảm 12 tuần nghỉ không lương theo Luật Nghỉ phép Gia đình và Y tế (Family and Medical Leave Act – FMLA) và phụ thuộc nhiều vào chính sách của từng bang hoặc từng công ty. Đông Nam Á đang trong giai đoạn cải thiện nhưng không đồng đều: Singapore vừa nâng tổng thời gian nghỉ lên 30 tuần từ tháng 4/2026, Philippines cho 105 ngày, trong khi Indonesia chỉ có 3 tháng và người cha nghỉ chỉ vỏn vẹn 2 ngày.

Trong thời gian nghỉ sinh, gián đoạn nghề nghiệp trở nên rõ rệt. Thu nhập có thể giảm từ 42-54%, trong khi chi phí nuôi con tăng lên đáng kể. Nhiều phụ nữ buộc phải quay lại làm việc sớm do áp lực tài chính.

Sau khi quay lại làm việc, khó khăn không kết thúc mà tiếp tục chuyển sang giai đoạn tái hòa nhập. Nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2022) do Alive & Thrive (FHI 360) phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng (RTCCD), Đại học McGill (Canada) và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (MOLISA) thực hiện trên 494 phụ nữ lao động chính thức tại Bắc Ninh, Bình Dương và TP.HCM, đăng trên International Journal of Environmental Research and Public Health cho thấy 16,5% quay lại làm việc sớm trước 6 tháng, 21,5% không được nghỉ 1 giờ/ngày để cho con bú, 38% làm việc với cường độ bằng hoặc cao hơn trước sinh, và chỉ 46,4% cảm thấy nghỉ thai sản có lợi cho sự nghiệp.

Những con số này cho thấy một thực tế đáng chú ý: áp lực không giảm đi sau sinh, mà thậm chí còn gia tăng trong giai đoạn quay lại. Có thể nói, người mẹ cần có hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện sau sinh – đặc biệt là cơ chế chia sẻ trách nhiệm chăm sóc giữa cha và mẹ, cũng như các chính sách hỗ trợ quay lại làm việc (như làm việc linh hoạt, nhà trẻ tại nơi làm, quy trình sau khi quay lại với công việc, v.v.).

Góc nhìn ngoài hướng nghiệp: Khi vai trò thay đổi

Theo Mô hình phát triển nghề nghiệp theo các giai đoạn cuộc đời bởi tác giả Donald E. Super, 1980 với 8 vai trò và 5 giai đoạn cuộc đời, người đi làm chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố về lối sống như: yếu tố hoàn cảnh lịch sử, kinh tế – xã hội (VD: dịch COVID-19, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, biến động giá vàng, v.v.); yếu tố môi trường (VD: thị trường lao động cắt giảm hàng loạt nhân sự, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo AI được ứng dụng trong quy trình tuyển dụng, v.v.); và yếu tố quyết định cá nhân (tâm lý, sinh lý). Vậy nên, sinh con là một quyết định mang tính cột mốc lớn đối với người lao động, bởi chúng ta không chỉ cần cân nhắc sức khoẻ mà còn cả thời điểm và hệ thống hỗ trợ người lao động trước-trong-sau khi sinh. Đây là thời điểm mà người đi làm cần hoà hợp giữa các vai trò và ưu tiên để vững vàng trong cuộc sống.

Trên phương diện sinh học, quá trình phục hồi sau sinh không kết thúc ở mốc sáu tháng. Hệ nội tiết – đặc biệt là các hormone liên quan đến mang thai, sinh nở và cho con bú – cần thời gian đáng kể để cân bằng lại, và quá trình này có thể kéo dài hơn một năm. Đối với những trường hợp sinh mổ, sinh khó hoặc có biến chứng, thời gian phục hồi còn dài hơn nữa.

Đi cùng với đó là một loạt áp lực rất cụ thể. Thiếu ngủ kinh niên trong những tháng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tập trung, ghi nhớ và ra quyết định. Gánh nặng chăm con nhỏ diễn ra liên tục, không có giờ nghỉ, đặc biệt với những gia đình hạt nhân. Lo lắng và căng thẳng về tài chính, về sức khỏe của con, về sự nghiệp đang tạm dừng dồn dập kéo đến trong cùng một giai đoạn. Và ở một mức độ nghiêm trọng hơn, trầm cảm sau sinh – một tình trạng y khoa ảnh hưởng đến một tỷ lệ đáng kể phụ nữ sau sinh trên toàn cầu – còn ít được nhận diện và hỗ trợ chuyên môn tại Việt Nam (Theo báo Tuổi trẻ, Phụ nữ bị trầm cảm sau sinh: 50% không được chẩn đoán, 2022).

Sinh con không chỉ là một sự kiện của cá nhân, mà còn là một chuyển dịch về định danh. Trước hết là cách nhìn về bản thân thay đổi. “Tôi là một người làm tài chính” giờ sẽ đi cùng với “tôi là mẹ của một em bé”. Hai bản dạng này bổ trợ lẫn nhau, khi “Công việc là việc kiếm tiền, còn làm mẹ là sự nghiệp quý nhất trong cuộc đời của chị” – chị M.P., 48 tuổi, công tác trong lĩnh vực tài chính & phát triển nghề nghiệp chia sẻ. Nhưng nó cũng có thể là xung đột, chị N., 31 tuổi, đang ôn thi luật sư, chia sẻ rằng chị “Cảm thấy bị bất lực vì trước giờ đang tự do bay nhảy. Có em bé thì đuối sức hơn và không biết cơ thể của mình thay đổi như thế nào theo từng tháng. Tháng thì nghén, có mấy tháng liền mất ngủ. Cảm thấy mình chậm hơn và có phần bị bỏ lại, dù vậy mình vẫn thấy xứng đáng vì biết mình có một em bé siêu dễ thương.”

Cùng với đó, giá trị và ưu tiên sống cũng dịch chuyển. Những thứ từng được coi là quan trọng – dự án lớn, có thể học hỏi được nhiều hay cơ hội thăng tiến – cần người mẹ đặt xuống để tập trung cho con. Đây là lúc mà tâm trí người mẹ dễ bị chọn một-trong-hai: sự nghiệp hoặc con, và từ đó dẫn đến cảm giác tội lỗi khi không dành đủ thời gian cho con, hoặc vướng mắc trong hai chữ “hi sinh”.

Khi sự nghiệp không chỉ “dừng sáu tháng”

Trên giấy tờ, nghỉ thai sản kéo dài sáu tháng. Nhưng nếu đo bằng tác động thực sự lên sự nghiệp, con số chính xác hơn có thể là ba đến năm năm.

Lý do nằm ở phần “tảng băng chìm” sau khi quay lại làm việc. Sáu tháng nghỉ chỉ là phần nổi; phía dưới còn là giai đoạn thích nghi kéo dài: làm quen lại với guồng công việc, học những công cụ và quy trình đã thay đổi trong thời gian vắng mặt, đồng thời gánh thêm trách nhiệm chăm con nhỏ ở nhà. Hiệu suất làm việc không thể trở lại mức trước sinh ngay lập tức – và điều này không phải do thiếu nỗ lực, mà người lao động nữ giờ đây đã có thêm một công việc không được trả lương và không có ngày nghỉ: chăm con.

Trong khi đó, môi trường nghề nghiệp – đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, marketing, tài chính – thay đổi rất nhanh. Một năm vắng mặt đủ để một nền tảng AI mới trở thành tiêu chuẩn, một quy trình cũ bị thay thế, hoặc nhiều xu hướng mới xuất hiện. Người phụ nữ sau sinh cần thời gian để cập nhật kỹ năng và thích nghi lại môi trường nhưng thường bị coi là một “gánh nặng chi phí” của doanh nghiệp.

Giai đoạn quay lại làm việc thường bộc lộ một khoảng cách kỳ vọng giữa người lao động và doanh nghiệp mà cả hai bên đều ít khi nhận ra. Người mẹ có thể kỳ vọng tiếp tục đảm nhận vai trò như trước sinh, nhưng phải đối mặt với thực tế là năng lượng, thời gian và sự linh hoạt đã thay đổi. Doanh nghiệp, ở chiều ngược lại, phải đưa ra các quyết định phân công trong điều kiện không chắc chắn – không rõ nhân viên có thể đảm nhận khối lượng nào, muốn được giao việc thử thách hay được vừa sức hơn.

Trong cùng môi trường đó, người phụ nữ sau sinh phải cạnh tranh với lao động trẻ – những người không có “gánh nặng gia đình”, có thể ở lại muộn, đi công tác bất kỳ lúc nào, và sẵn sàng học công nghệ mới với tốc độ của tuổi hai mươi. Đây không phải là cuộc cạnh tranh công bằng, nhưng lại thường được sử dụng cùng một thước đo.

Câu trả lời không phải “cố gắng hơn”, mà nằm ở hệ thống hỗ trợ người mẹ toàn diện

Trong các trao đổi về chủ đề này, chuyên gia hướng nghiệp Phoenix Ho đưa ra một quan điểm rất thẳng thắn: làm mẹ luôn có giá phải trả. Trước hết, với người lao động nữ, đó là sức khoẻ và thời gian. Điều quan trọng không phải là tìm ra lựa chọn “không tổn thất”, mà là tìm được sự bình an với lựa chọn của mình – bình an trong nghề nghiệp và bình an với gia đình.

Bắt đầu từ người đi làm

Chuyên gia Phoenix Ho đưa ra một nguyên tắc đáng lưu ý: để chuẩn bị đường dài quay lại với công việc, người mẹ bắt buộc phải duy trì “một dòng chảy nhỏ” để tiếp tục phát triển nghề nghiệp.

Thứ nhất là chuẩn bị kế hoạch trước-trong-sau khi nghỉ sinh.

  • Trước khi nghỉ sinh: Chuẩn bị kế hoạch tài chính từ 12 – 18 tháng. Thông báo, giảm khối lượng công việc theo tháng của thai kì, song song là bàn giao dần công việc cho công ty và quản lý. Tiếp đó là kế hoạch kỹ năng (những gì cần học trước, những gì có thể học trong giai đoạn ở nhà), và quan trọng nhất là một bản đồ rõ ràng về việc mình muốn quay lại với vai trò nào – cùng vị trí cũ, một vai trò linh hoạt hơn, hay một hướng nghề nghiệp khác hoàn toàn. Điều này dẫn đến nguyên tắc cốt lõi thứ hai: ứng dụng Công thức nâng cao khả năng được tuyển dụng (tác giả Phoenix Ho, 2019).
  • Trong khi nghỉ sinh: Tập trung vào năng lực hành nghề và mạng lưới chuyên nghiệp: học những kỹ năng có thể học tại nhà, duy trì mạng lưới chuyên nghiệp, giữ hồ sơ năng lực “sống” dù chỉ với những đóng góp nhỏ, tuỳ theo sức khoẻ của người mẹ.
  • Trong – sau khi nghỉ sinh: Xác nhận thời gian quay trở lại công việc, nhận lại dần các công việc theo khả năng. Quay lại làm việc và xác định các dự án/đầu việc ưu tiên, sắp xếp với thời gian dành cho con nhỏ.

Thứ hai là chấp nhận “đường cong sự nghiệp” không tuyến tính. Mô hình truyền thống – đi học, ra trường, làm việc, thăng tiến đều đặn theo năm – không còn phù hợp với phụ nữ có con (và thực ra cũng không còn phù hợp với phần lớn người lao động hiện đại). Sự nghiệp sau sinh có thể là một đường cong với những đoạn đi ngang, đi xuống, rồi bật lên lại – và điều đó hoàn toàn bình thường. Vấn đề là không nhìn những đoạn “đi ngang” đó là thất bại, mà là một phần của hành trình.

Thứ ba là chuẩn bị tâm lý cho sự hỗn loạn. Mọi kế hoạch chăm con đều có khả năng bị đảo lộn: con ốm bất ngờ, người trông trẻ nghỉ việc, ông bà có việc đột xuất, bản thân kiệt sức. Người mẹ làm tốt nhất không phải là người lập kế hoạch hoàn hảo nhất, mà là người có khả năng thích nghi nhanh khi kế hoạch đổ vỡ.

Một cách hữu ích để hình dung giai đoạn này là Mô hình phát triển nghề nghiệp theo các giai đoạn cuộc đời (tác giả Donald E. Super, 1980): khi có con – dù muốn hay không – các ưu tiên sẽ không như trước, và trách nhiệm sẽ phân bố lại trên nhiều màu sắc khác nhau của cuộc sống. Sự nghiệp không biến mất, nhưng nó sẽ chia sẻ không gian với các vai trò khác. Chấp nhận điều này không phải là “chịu thua”, mà là nhìn cuộc sống đúng với hình hài thực sự của nó.

Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ

Cá nhân nỗ lực thôi không đủ. Cần một hệ sinh thái xung quanh.

Trước hết là sự hỗ trợ cho cả mẹ và cha. Đây là điểm thường bị bỏ qua: phần lớn các thảo luận về thai sản chỉ tập trung vào người mẹ, trong khi sự tham gia thực chất của người cha mới là yếu tố quyết định để người mẹ có thể quay lại làm việc một cách bền vững. Cần có sự thay đổi trong kỳ vọng xã hội về vai trò người cha: nuôi con là việc của hai người, và đặc biệt người mẹ cần được hỗ trợ trong khoảng thời gian dễ tổn thương nhất (trước-trong-sau khi sinh).

Tiếp theo là hạ tầng chăm sóc trẻ. Nhà trẻ chất lượng, gần nơi làm việc hoặc nơi ở, với giờ giấc linh hoạt và chi phí hợp lý – đó là điều kiện tiên quyết để một người mẹ có thể quay lại làm việc mà không phải sống trong trạng thái lo lắng triền miên. Hiện tại, phần lớn gia đình Việt Nam phải dựa vào ông bà hoặc người giúp việc – một mô hình không bền vững và không phải gia đình nào cũng có.

Cấp độ doanh nghiệp

Cuối cùng, doanh nghiệp – nơi quyết định trực tiếp việc người mẹ có thể quay lại hay không – cần thay đổi từ hai phía.

Chính sách re-onboarding là việc đầu tư có hệ thống vào quá trình quay lại làm việc của nhân viên sau thai sản, thay vì coi đó là việc tự thân của họ. Điều này có thể bao gồm: một buổi định hướng lại trước khi quay lại để cập nhật những thay đổi trong tổ chức, một người mentor đồng hành trong 3-6 tháng đầu, lộ trình điều chỉnh khối lượng công việc theo từng giai đoạn, và đánh giá hiệu suất công bằng (không so sánh trực tiếp với mức trước sinh trong giai đoạn tái thích nghi).

Làm việc linh hoạt – về thời gian, địa điểm, và khối lượng – là yếu tố mang tính quyết định. Điều này không có nghĩa là ưu ái người mẹ sau sinh, mà là thiết kế lại công việc để nó tương thích với thực tế của người lao động hiện đại. Những doanh nghiệp đi đầu trong việc này không chỉ giữ được nhân tài nữ sau sinh, mà còn xây dựng được lợi thế cạnh tranh trong việc tuyển dụng – đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động Việt Nam đang ngày càng cạnh tranh.

Có thể nói, khi cách nhìn của tất cả các bên cùng dịch chuyển – ghi nhận giai đoạn tái thích nghi của người mẹ như một quá trình tự nhiên, xem đầu tư cho chính sách thai sản là một phần của môi trường làm việc bền vững, và coi sự tham gia của người cha là vai trò bình đẳng trong gia đình – kỳ nghỉ thai sản có thể trở thành điều nó vốn nên là: một khoảng thời gian để chào đón một sinh linh mới, đồng thời mở ra một chương mới trong hành trình nghề nghiệp của người mẹ. Để từ đó, người lao động nữ có thể tiếp tục hành trình nghề nghiệp của mình một cách bền vững.

Các nguồn tham khảo:

  1. Nguyen, T. T., Cashin, J., Tran, H. T. T., Vu, D. H., Nandi, A., Phan, M. T., Van, N. D. C., Weissman, A., Pham, T. N., Nguyen, B. V., & Mathisen, R. (2022). Awareness, perceptions, gaps, and uptake of maternity protection among formally employed women in Vietnam. International Journal of Environmental Research and Public Health, 4772.
  2. Wang, Z., Liu, J., Shuai, H., Cai, Z., Fu, X., Liu, Y., Xiao, X., Zhang, W., Krabbendam, E., Liu, S., Liu, Z., Li, Z., & Yang, B. X. (2021). Mapping global prevalence of depression among postpartum women. Translational Psychiatry, 11(1), 543.
  3. Hahn-Holbrook, J., Cornwell-Hinrichs, T., & Anaya, I. (2017). Economic and health predictors of national postpartum depression prevalence: A systematic review, meta-analysis, and meta-regression of 291 studies from 56 countries. Frontiers in Psychiatry, 8, 248.
  4. Trần, T. H., & cộng sự. (2023). Tỷ lệ trầm cảm sau sinh và các yếu tố liên quan ở phụ nữ tại huyện Đông Anh, Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam.
  5. International Labour Organization, & General Statistics Office of Vietnam. (2021). Gender and the labour market in Vietnam: An analysis based on the labour force survey. ILO Vietnam.
  6. Tổng cục Thống kê. (2025, July). Thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2025.
  7. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Ban Nữ công. (2024). Đề án hỗ trợ công nhân lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất chăm sóc, nuôi dạy con. Hà Nội.
  8. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2019). Bộ luật Lao động 2019 (Luật số 45/2019/QH14).
  9. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2024). Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (Luật số 41/2024/QH15).
  10. United States Congress. (1993). Family and Medical Leave Act of 1993 (Public Law 103-3). U.S. Department of Labor.
  11. International Labour Organization. (2000). Maternity Protection Convention, 2000 (No. 183). Geneva: ILO.
  12. Báo Sài Gòn Giải Phóng. (2024). Thiếu nhà trẻ trong khu công nghiệp.
  13. Báo Tuổi Trẻ. (2022). Phụ nữ bị trầm cảm sau sinh: 50% không được chẩn đoán.
  14. Báo Tuổi Trẻ. (2024). Trẻ con công nhân khu công nghiệp thiếu thốn mọi mặt, cha mẹ phải gửi về quê.
  15. Báo Tuổi Trẻ. (2026). Thiếu chỗ gửi trẻ, lao động nữ khó quay lại khu công nghiệp.
  16. Báo Dân Việt. (2024). Nữ công nhân ở khu công nghiệp, khu chế xuất sẽ được hỗ trợ chăm sóc, nuôi con nhỏ.
  17. Báo Dân Trí. (2022). Cần nhiều hơn nhà trẻ cho con công nhân tại khu chế xuất, khu công nghiệp.
  18. Báo Nhân Dân. (2015). Thiếu hụt nhà trẻ trong các khu công nghiệp.
  19. Đài Truyền hình Việt Nam (VTV). (2022). Thiếu nhà trẻ trong khu công nghiệp: Tháo gỡ ra sao?
  20. Tạp chí Tia Sáng. (n.d.). Tỷ lệ phụ nữ Việt Nam tham gia lực lượng lao động cao hơn trung bình toàn cầu và khu vực.

Bài viết Kì nghỉ thai sản: Khi niềm hạnh phúc cá nhân trở thành nỗi lo phát triển nghề nghiệp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Thế hệ 25-30*: Giữa áp lực tài chính và khát vọng định vị bản thân https://huongnghiepsongan.com/the-he-25-30-giua-ap-luc-tai-chinh-va-khat-vong-dinh-vi-ban-than/ Sat, 05 Sep 2026 08:54:50 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=33689 *Cần lưu ý rằng độ tuổi không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Áp lực mà mỗi người trẻ trải qua còn phụ thuộc vào bối cảnh họ sinh ra và lớn lên: từ văn hóa vùng miền, cấu trúc gia đình, đến “di sản tâm lý” của thế hệ cha mẹ. Thế ...

Bài viết Thế hệ 25-30*: Giữa áp lực tài chính và khát vọng định vị bản thân đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
*Cần lưu ý rằng độ tuổi không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Áp lực mà mỗi người trẻ trải qua còn phụ thuộc vào bối cảnh họ sinh ra và lớn lên: từ văn hóa vùng miền, cấu trúc gia đình, đến “di sản tâm lý” của thế hệ cha mẹ. Thế hệ 25-30 không phải là một trải nghiệm đồng nhất, mà là điểm giao thoa của nhiều hệ giá trị khác nhau.

Khi người trẻ 30 tuổi không còn hỏi “Tôi là ai?”

Có một kịch bản quen thuộc trong những đêm mất ngủ của người trẻ ở ngưỡng cửa tuổi 30: ánh sáng xanh từ màn hình điện thoại hắt lên những dòng trạng thái về “tự do tài chính trước tuổi 30”, những bức ảnh “flex” căn hộ cao cấp, hay các bảng thu nhập thụ động với những con số chín chữ số. Trong khoảnh khắc ấy, câu hỏi “Tôi là ai?” lãng mạn của tuổi 20 bỗng chốc bị dập tắt, nhường chỗ cho một nỗi ám ảnh thực dụng và khắc nghiệt hơn: “Tôi kiếm được bao nhiêu tiền?”.

Ở giai đoạn này, người trẻ đứng giữa một giao điểm đầy căng thẳng: một mặt là nhu cầu định hình bản sắc cá nhân; mặt khác là sự bùng nổ của “khủng hoảng tuổi một phần tư cuộc đời”, gắn liền với cảm giác bất định về tương lai và áp lực nghề nghiệp (Chrisnatalia et al., 2023). Trong giao điểm ấy, tiền bạc không chỉ là phương tiện chi trả sinh hoạt mà dần trở thành thước đo danh dự, một đơn vị định giá cho sự trưởng thành và giá trị bản thân.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận nỗi ám ảnh này như một sự thay đổi tâm lý cá nhân thì có lẽ chúng ta đã quá bất công với chính mình. Áp lực tài chính này thực chất là một “kiến trúc” đa tầng, nơi chúng ta loay hoay giữa ba vòng xoáy cộng hưởng: Hệ thống môi trường – xã hội; Hệ thống xã hội; Hệ thống cá nhân.

Hiểu những áp lực này không phải để biện minh cho sự bế tắc, mà để nhìn rõ chúng đến từ đâu. Khi thấu suốt các tầng hệ thống định hình mình, người trẻ sẽ chuyển từ đối phó với áp lực sang lựa chọn có ý thức, đặc biệt trong bối cảnh việc học tập và thích nghi liên tục đang dần trở thành một “trạng thái bình thường mới” của thị trường lao động (Pew, 2020).

Hệ thống môi trường – xã hội: Những chuyển dịch kinh tế định hình tư duy thế hệ

Những áp lực tài chính hiện tại không chỉ bắt nguồn từ cá nhân mà còn từ bối cảnh kinh tế mà thế hệ cha mẹ họ đã phải thích nghi. Những chuyển dịch kinh tế lớn kể từ sau công cuộc Đổi Mới năm 1986 đã âm thầm định hình cách nhiều gia đình Việt Nam nhìn nhận tiền bạc, nghề nghiệp và sự ổn định trong cuộc sống (World Bank, 2022).

  • Sau công cuộc Đổi Mới năm 1986, các làn sóng mở cửa kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hội nhập quốc tế và cạnh tranh toàn cầu đã liên tục tái định hình đời sống lao động tại Việt Nam. Trong một xã hội trải qua nhiều biến động kinh tế, “ổn định tài chính” dần trở thành một giá trị sống cốt lõi. Ổn định không chỉ là mục tiêu mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh tồn và vươn lên.
  • Giai đoạn 1993-1995, khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ và mở cửa sâu hơn với nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều. Làn sóng này kéo theo sự thay đổi trong kỳ vọng nghề nghiệp: học ngoại ngữ trở thành một lợi thế quan trọng, giấc mơ du học bắt đầu hình thành, và những công việc tại doanh nghiệp quốc tế được xem như biểu tượng của một tương lai ổn định hơn.
  • Đến cuối thập niên 1990 (đặc biệt trong giai đoạn 1997-2000), dòng vốn FDI kết hợp với sự phổ biến của Internet đã góp phần định hình rõ nét đời sống lao động công nghiệp. Người lao động dần quen với một nhịp làm việc đều đặn theo doanh nghiệp: lương tháng cố định, giờ giấc rõ ràng, ca kíp ổn định và sự gắn bó lâu dài với một tổ chức.
  • Khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007, hội nhập kinh tế không còn là lựa chọn mà trở thành một cuộc chơi bắt buộc. Cạnh tranh diễn ra trên nhiều phương diện và thông điệp “không giỏi sẽ bị đào thải” dần trở thành một thực tế hiển nhiên trên thị trường lao động.
  • Bước sang thập niên 2020, cú sốc COVID-19 cùng những khủng hoảng kinh tế toàn cầu liên tiếp khiến trạng thái bất ổn không còn là ngoại lệ mà trở thành điều kiện nền tảng mà người lao động buộc phải thích nghi (Deloitte, 2024). Trong bối cảnh đó, những công việc theo biên chế, có lương ổn định theo tháng, hay làm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài tiếp tục được nhiều gia đình xem là biểu tượng của sự an toàn – một tấm lá chắn trước những chu kỳ bất ổn kinh tế kéo dài.
  • Ở giai đoạn hậu đại dịch: Những biến động không còn dừng lại ở các cú sốc kinh tế ngắn hạn. Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo đang đặt lại câu hỏi về tính bền vững của nhiều ngành nghề, trong khi thị trường lao động toàn cầu ngày càng trở nên linh hoạt và khó dự đoán hơn (McKinsey, 2023; Pew, 2020).

Trong một thế giới mà ngay cả những ngành nghề ổn định cũng có thể bị thay thế hoặc gián đoạn, khát vọng an toàn tài chính không còn đơn thuần là một lựa chọn, mà dần trở thành một phản xạ sinh tồn.

Hệ thống xã hội: Gia đình, giáo dục và những niềm tin nền tảng

Nếu những chuyển dịch kinh tế nhiều thập kỷ đã biến “ổn định” thành một giá trị xã hội, thì gia đình và giáo dục là nơi giá trị đó được nuôi dưỡng và truyền lại qua từng thế hệ.

Thế hệ cha mẹ, lớn lên trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động và cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đã chuyển hóa những trải nghiệm sinh tồn của mình thành cách định hướng con cái. Trong nhiều trường hợp, lời khuyên dành cho con cái khá nhất quán: học thật giỏi, chọn một ngành dễ tìm việc làm, làm việc lâu dài ở một công ty với mức lương ổn định.

Từ đó, tư duy nghề nghiệp dần được định hình theo hướng tìm kiếm sự an toàn. Một công việc tốt thường được hiểu là ít rủi ro, có lộ trình thăng tiến rõ ràng và gắn với một tổ chức đủ lớn để đảm bảo tính bền vững. Trong cách nhìn này, sự phù hợp cá nhân hay nhu cầu khám phá thường bị đặt ở vị trí thứ yếu.

Điều đáng chú ý là, trong khi định hướng tìm kiếm sự ổn định được nhấn mạnh từ rất sớm, những kỹ năng nền tảng liên quan đến tài chính cá nhân – như thương lượng thu nhập, trao đổi giá trị lao động, đầu tư hay quản trị dòng tiền – lại hiếm khi được đề cập một cách bài bản trong gia đình và nhà trường (Đỗ Thị Hà Thương & Lê Đình Hạc, 2023). Khoảng trống này khiến tiền bạc không được nhìn nhận như một công cụ để học hỏi và làm chủ. Thay vào đó, nó dần gắn liền với nỗi sợ bất ổn và nhu cầu phải an toàn bằng mọi giá.

Khi tiền bạc được đặt trong khung nhận thức đó, nhiều người trẻ có xu hướng ưu tiên những lựa chọn ít rủi ro trong ngắn hạn, ngay cả khi những lựa chọn ấy không thực sự phù hợp với năng lực hay định hướng lâu dài của bản thân (Ajzen, 1991). Không ít người vì thế tiếp tục ở lại trong những công việc đã mất đi ý nghĩa phát triển, chỉ vì chúng vẫn đảm bảo một mức thu nhập đủ an toàn.

Sự lựa chọn này đôi khi không xuất phát từ thiếu năng lực hay thiếu tham vọng, mà từ một hệ giá trị đã được hình thành từ rất sớm: ổn định trước hết, đam mê tính sau.

Hệ thống cá nhân: Khi áp lực hệ thống bùng nổ ở tuổi 25-30

Nếu các chuyển dịch kinh tế đã định hình tư duy của một thế hệ, và gia đình cùng giáo dục đã truyền lại hệ giá trị ấy cho người trẻ, thì độ tuổi 25-30 chính là thời điểm mọi áp lực của hệ thống bắt đầu hội tụ trong đời sống cá nhân.

Ở giai đoạn này, nhiều người trẻ lần đầu tiên phải đối diện với sự chuyển dịch vai trò rõ rệt: từ người phụ thuộc sang người chịu trách nhiệm tài chính cho chính mình, thậm chí cho cả gia đình. Tiền bạc, vì thế, không còn là một lựa chọn cá nhân hay một công cụ phục vụ lối sống. Tiền bạc dần trở thành nghĩa vụ, trở thành thước đo cho sự trưởng thành và khả năng đứng vững trong xã hội (Mawadaha & Sumiati, 2025).

Trong không gian đó, thành công dần được quy đổi thành những thước đo hữu hình: mức thu nhập, căn hộ sở hữu, chiếc xe đang đi, hay khả năng đạt được tự do tài chính trước một độ tuổi nhất định. Sự so sánh không còn xoay quanh việc ai phù hợp hơn với công việc của mình, mà dần chuyển thành một câu hỏi thực dụng hơn: “Ai đạt được sự ổn định tài chính sớm hơn?”.

Không ít người trẻ vì thế rơi vào trạng thái giằng co kéo dài giữa khát vọng cá nhân và áp lực thực tế (Chrisnatalia et al., 2023). Một số liên tục làm nhiều công việc ngắn hạn để tối đa hóa thu nhập trước mắt, hy vọng nhanh chóng đạt đến cảm giác an toàn tài chính. Một số khác lại bị mắc kẹt trong cái gọi là “chiếc còng tay vàng”, nơi mức lương và phúc lợi đủ hấp dẫn để giữ họ ở lại, dù sự hứng thú và kết nối với công việc đã dần cạn kiệt.

Khi việc từ bỏ một nguồn thu nhập ổn định trở nên quá rủi ro, nhiều người chọn cách trì hoãn những quyết định lớn. Họ tiếp tục duy trì công việc không còn phù hợp, đổi sự ổn định tài chính lấy cảm giác mất phương hướng nghề nghiệp. Trong quá trình đó, câu hỏi từng rất quan trọng của tuổi 20 – “Tôi muốn trở thành ai?” – đôi khi bị lùi lại phía sau, nhường chỗ cho một câu hỏi cấp bách hơn: “Liệu mình có đủ vững vàng về tài chính hay chưa?”.

Có lẽ vấn đề không nằm ở việc chọn một con đường đúng

Nếu áp lực tài chính của thế hệ 25-30 là sản phẩm của nhiều tầng hệ thống thì lời giải cho người trẻ cũng khó có thể nằm ở một lựa chọn đơn lẻ.

Thực tế khắc nghiệt dạy cho người trẻ một bài học quan trọng:chúng ta không thể bay bằng một cánh.Để tồn tại và phát triển trong một hệ thống đầy biến động, mỗi cá nhân buộc phải học cách vận hành song song hai năng lực cốt lõi:

  • Một là năng lực chuyên môn: thứ cho phép chúng ta tạo ra giá trị thực tế và khẳng định vị thế trên thị trường lao động.
  • Hai là năng lực tài chính cá nhân: khả năng hiểu, quản lý và ra quyết định về dòng tiền một cách có ý thức.

Trong nhiều năm, chúng ta thường bị mắc kẹt trong lựa chọn giữa bản sắc và ổn định, giữa đam mê và tiền bạc. Nhưng khi nhìn dài hạn hơn, nghề nghiệp hiếm khi là một quyết định duy nhất được đưa ra ở tuổi đôi mươi. Nó thường là một hành trình nhiều giai đoạn, trong đó mỗi giai đoạn phục vụ một mục tiêu khác nhau, mang những vai trò, trách nhiệm và mức độ tự do khác nhau.

Ở ngưỡng tuổi 25-30, chúng ta thực ra không còn là những tờ giấy trắng loay hoay học việc. Sau 5 đến 7 năm thực chiến, một năng lực chuyên môn nhất định đã dần kết tinh. Đó chính là vốn liếng nghề nghiệp, là tài sản lớn nhất mà nhiều người đã âm thầm tích lũy qua những dự án căng thẳng, những giờ làm thêm muộn và những thất bại không ai nhìn thấy.

Chính vì vậy, có thể hình dung giai đoạn này như một “vùng đệm” hiếm hoi của cuộc đời: khi nghĩa vụ tài chính chưa quá nặng nề, nhưng năng lực và trải nghiệm đã đủ để tạo ra lựa chọn. Trong khoảng thời gian này, việc chưa hoàn toàn ổn định không nhất thiết là một thất bại, mà có thể là đặc điểm tự nhiên của một giai đoạn được dành cho việc thử nghiệm, điều chỉnh và định hình lại hướng đi.

Tuy nhiên, trong một hệ thống đầy biến động, điều quan trọng không nằm ở việc kiểm soát được môi trường – điều vốn nằm ngoài khả năng của mỗi cá nhân – mà ở việc nhận diện rõ những gì mình có thể kiểm soát. Khi không thể quyết định điều gì sẽ xảy ra với nền kinh tế, với thị trường lao động hay với xã hội, người trẻ vẫn có thể lựa chọn cách mình nhìn nhận giai đoạn hiện tại, mức độ sẵn sàng chấp nhận rủi ro và chấp nhận những đánh đổi.

Sự lựa chọn này đòi hỏi một mức độ rõ ràng không dễ đạt được: rõ về kỳ vọng của gia đình, rõ về kỳ vọng của chính mình, và đủ trung thực để phân biệt đâu là mong muốn thật sự, đâu là áp lực đến từ so sánh và FOMO. Việc chủ động trao đổi về mục tiêu tài chính, lộ trình nghề nghiệp, hay những đánh đổi mà mình sẵn sàng chấp nhận có thể giúp giảm bớt áp lực vô hình, đồng thời tạo ra sự đồng thuận cần thiết để theo đuổi những lựa chọn dài hạn hơn.

Trong bối cảnh đó, phát triển nghề nghiệp cũng không còn phù hợp với tư duy “một con đường duy nhất”. Thay vào đó, nhiều người trẻ bắt đầu xây dựng năng lực theo dạng chữ T: một trục chuyên môn đủ sâu để tạo ra giá trị cốt lõi, đi kèm với những “mũi nhọn” kỹ năng khác được phát triển theo thời gian, từ đó mở ra nhiều hướng đi linh hoạt hơn trong tương lai.

Để duy trì khả năng điều chỉnh đó, để giành quyền chủ động, nhiều người lựa chọn những chiến lược rất thực tế, thường được gọi bằng một cách đơn giản là “lấy ngắn nuôi dài”:

  • Với một số người, đó là sự tích lũy tài chính: chấp nhận một công việc ổn định để xây dựng vùng đệm an toàn, mua lại thời gian cho những dự án cá nhân trong tương lai.
  • Với người khác, đó là sự tối ưu hóa năng lực: tận dụng chuyên môn đã chín muồi để chuyển sang những mô hình làm việc linh hoạt hơn (freelance, consulting), vừa đảm bảo thu nhập, vừa nới rộng không gian cho bản sắc cá nhân.
  • Với một số người khác nữa, đó là đầu tư vào mạng lưới: dùng uy tín nghề nghiệp đã xây dựng để kết nối với những cộng đồng cùng giá trị, nơi cơ hội không đến từ các mẩu tin tuyển dụng mà đến từ sự đồng điệu về tư duy.

Một nền tảng tài chính đủ vững, suy cho cùng, sẽ tạo ra điều quý giá nhất – thời gian: thời gian để học thêm, thử nghiệm và điều chỉnh mà không phải trả giá quá đắt. 

Khi tiền bạc được đặt lại đúng vai trò – một công cụ tạo ra sự an toàn thay vì thước đo giá trị con người – không gian tinh thần của chúng ta sẽ được giải phóng. Khi nỗi lo sinh tồn tạm lắng xuống, câu hỏi “Tôi là ai” hay “Tôi thực sự muốn trở thành ai?” sẽ có cơ hội quay trở lại.

Nhưng lần này, nó không còn là một tiếng thở dài vô định, mà là một dự định có cơ sở. Chúng ta có thể đưa ra một lựa chọn có ý thức được nâng đỡ bởi trải nghiệm, năng lực và một mức độ an toàn vừa đủ để không phải đánh đổi mọi thứ chỉ để tồn tại.

Cơ sở lý thuyết

  1. Patton & McMahon. Systems theory framework.
  2. Super, D. E. Life-span, life-space theory.
  3. Rotter, J. B. Locus of Control
  4. Pryor, R. G. L., & Bright, J. M. Chaos theory of careers.
  5. Krumboltz, J. D. Planned happenstance theory.

Các nguồn tham khảo:

  1. World Bank. (2022). Vietnam Poverty and Equity Assessment: From the Last Mile to the Next Mile.
  2. McKinsey. (2023). Generative AI and the future of work in America.
  3. Báo Nhân Dân. (2025). Việt Nam và bước ngoặt hội nhập kinh tế quốc tế.
  4. Minh Ngọc. (2024). Giới trẻ sẽ là “hạt nhân” quan trọng để lan tỏa kiến thức về giáo dục tài chính. Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ.
  5. Nguyễn Vân Hà & Trương Hoàng Nam. (2023). Sức khỏe tài chính của giới trẻ trên địa bàn Hà Nội: Vai trò của thảo luận tài chính, hiểu biết tài chính và ý thức tài chính. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.
  6. Khúc Thế Anh, Phùng Thanh Quang & Vũ Thu Huyền. (2022). Nhân tố tác động đến ý định thực hiện độc lập tài chính – nghỉ hưu sớm của thế hệ millennials tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển.
  7. Đặng Thị Lệ Xuân & Lê Văn Hinh. (2024). Các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính của sinh viên: Nghiên cứu điển hình tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển.
  8. Rydzik, A. & Bal, P. M. (2023). The age of insecuritisation: Insecure young workers in insecure jobs facing an insecure future. Human Resource Management Journal.
  9. Pew Charitable Trusts. (2020). Lifelong Learning Will Be the New Normal—But Are We Ready?
  10. Chrisnatalia, M., Prasvista, Y. H., Liwun, S. B. B., & Maria. (2023). Quarter Life Crisis Job Seeker Early Adulthood. Journal of Positive Psychology & Wellbeing.
  11. Badriatul Mawadaha, Sumiati Sumiatib. (2025). Determinants of financial well-being in young adults’ quarter-life crisis. Jurnal Ekonomi dan Bisnis.

Bài viết Thế hệ 25-30*: Giữa áp lực tài chính và khát vọng định vị bản thân đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Thế hệ nằm thẳng – Khi người lao động trẻ tuyên bố: “Tôi bỏ cuộc” https://huongnghiepsongan.com/the-he-nam-thang-khi-nguoi-lao-dong-tre-tuyen-bo-toi-bo-cuoc/ Sat, 05 Sep 2026 07:46:10 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=32875 “Cố gắng cũng có được gì đâu…” Một “thái độ sống” với nhiều cách gọi khác nhau Phong trào Tang ping, hay lying flat (nằm thẳng) bùng nổ trên các trang mạng xã hội Trung Quốc từ tháng 4 năm 2021 như một lối sống mới, thậm chí trở thành một phong trào xã hội. ...

Bài viết Thế hệ nằm thẳng – Khi người lao động trẻ tuyên bố: “Tôi bỏ cuộc” đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
“Cố gắng cũng có được gì đâu…”

Một “thái độ sống” với nhiều cách gọi khác nhau

Phong trào Tang ping, hay lying flat (nằm thẳng) bùng nổ trên các trang mạng xã hội Trung Quốc từ tháng 4 năm 2021 như một lối sống mới, thậm chí trở thành một phong trào xã hội. Người trẻ Trung Quốc từ chối chạy theo áp lực cực đoan “996 culture” (từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, 6 ngày/tuần). Biểu hiện của lối sống này là “nằm thẳng”, mặc kệ sự đời, chỉ làm những việc tối thiểu để sống qua ngày mà không phấn đấu hay cố gắng vượt lên trong công việc hay xã hội. Người “nằm thẳng” có thái độ từ bỏ mọi nỗ lực để đạt mục tiêu lớn, kế hoạch cuộc đời.

Theo thống kê mới nhất được công bố vào tháng 2/2025, cứ 6 người trẻ Trung Quốc thì có 1 người không có việc làm (tức khoảng 16,7%). Chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng can thiệp bằng cách kiểm duyệt từ khóa, xóa các bài viết và nhóm thảo luận về “nằm thẳng” trên mạng xã hội Trung Quốc Weibo, Douban, Zhihu, cho rằng phong trào này gây ảnh hưởng tiêu cực tới tinh thần lao động quốc gia. Truyền thông nhà nước đồng thời lên án Tang Ping, khẳng định “nằm thẳng không phải lựa chọn của giới trẻ”, và thúc đẩy các chính sách việc làm – nhà ở nhằm giảm bớt áp lực kinh tế vốn là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng này.

Không chỉ tại Trung Quốc, Tang ping, hay lying flat còn có nhiều tên gọi khác nhau trên toàn thế giới, với những biểu hiện tương đồng với các mức độ khác nhau. Tại Mỹ & Châu Âu là quiet quitting/boomerang kids: làm đúng mô tả công việc, từ chối làm thêm giờ, quay về nhà bố mẹ sống. Tại Châu Á như Hong Kong hay Singapore có khái niệm NEET – “Not in Education, Employment, or Training”, chỉ những người trẻ không tham gia vào việc học, đào tạo hoặc không có việc làm. Tại Hàn Quốc có thế hệ Sampo: những người quyết định từ bỏ ba điều quan trọng trong cuộc đời: hẹn hò, kết hôn và sinh con. Thuật ngữ này xuất phát từ tiếng Hàn “sampo” có nghĩa là “từ bỏ ba thứ”, do gánh nặng tài chính, áp lực từ xã hội và những bất bình đẳng giới. Tại Nhật Bản có nhóm Hikikomori: rút lui khỏi xã hội, không đi học, không đi làm, ẩn mình trong phòng riêng.

Tại Việt Nam, dù chưa có tên gọi chính thức, nhưng hoàn toàn có các biểu hiện rút lui nghề nghiệp/ xã hội/ trì hoãn trưởng thành tương tự khu vực châu Á và thế giới. Cụ thể hơn, theo ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế) và Tổng cục Thống kê tháng 11/2025, tỷ lệ NEET ở người trẻ 15 – 24 tuổi có tới 1,6 triệu thanh niên không tham gia vào việc học, đào tạo hoặc không có việc làm. Con số này tăng 250.000 người so với quý 2/2025.

Ảnh hưởng của thái độ sống nằm thẳng

Theo một nghiên cứu thực nghiệm giữa việc nằm thẳng và sự hài lòng trong cuộc sống ở người thuộc độ tuổi 18-28 tại Trung Quốc, “nằm thẳng” dự đoán tiêu cực đáng kể đến sự hài lòng trong cuộc sống sau một tháng. Nghiên cứu này cho rằng “nằm thẳng” là một cơ chế giải tỏa tạm thời khi đối diện với áp lực quá lớn, nhưng hậu quả là tác động lâu dài đến sức khoẻ tâm thần. Khi cá nhân không có mục tiêu, không làm việc hay có hoạt động thử thách, không đạt được sự tiến bộ, họ mơ hồ về năng lực của chính mình hay mục đích sống.

Thái độ sống nằm thẳng không chỉ là một phản ứng tâm lý, mà còn là một sự thích nghi với hiện tại

Tiktoker ỚT In4 chia sẻ: “Giá mua nhà ở Việt Nam cao gấp 23,7 lần thu nhập bình quân”. Cô tuyên bố “và khi tôi nhìn vô tấm hình này là tôi tự động tôi bỏ cuộc, tôi không muốn cố gắng, tôi không muốn phấn đấu gì nữa.”

Trong suốt nhiều thập kỷ, thước đo thành công ở Việt Nam (và phần lớn châu Á) xoay quanh các dấu mốc “an cư lạc nghiệp”: học tốt – có việc ổn định – mua nhà – kết hôn – sinh con.

Tuy nhiên, cấu trúc kinh tế – xã hội tại Việt Nam đang thay đổi quá nhanh so với kỳ vọng đặt lên người trẻ. Thực tế trong 2025, giá mua nhà ở Việt Nam cao gấp 20-25 lần thu nhập bình quân, một trong những mức chênh lệch cao nhất Đông Nam Á (theo Vietnamnet), chi phí nuôi con chiếm tới 40% thu nhập gia đình (theo Báo Lao Động), trong đó, tiền lương khởi điểm trung bình chỉ tăng nhẹ, không theo kịp tốc độ lạm phát và chi phí sống tại đô thị (theo VnEconomy).

Đối với phần lớn người trẻ, việc cố gắng làm việc không còn tạo ra đột phá tài chính như thế hệ trước. Một bộ phận cảm thấy mình đang chạy trên chiếc máy chạy bộ không bao giờ dừng, càng chạy càng kiệt sức mà vẫn không đến được đích.

Điều này lý giải vì sao lying flat, quiet quitting, trì hoãn trưởng thành hay “từ bỏ cuộc đua” lại trở thành chiến lược sinh tồn, chứ không phải thái độ lười biếng. Người trẻ Việt Nam đứng trước một loạt rào cản: kỳ vọng gia đình về ổn định và thăng tiến, chuẩn mực xã hội gắn thành công với nhà – xe – hôn nhân – con cái, và áp lực từ mạng xã hội khiến họ liên tục so sánh bản thân. Khi kỳ vọng tăng nhưng cơ hội không theo kịp, việc rút lui trở thành phản ứng tự nhiên nhằm bảo vệ sức khỏe tinh thần và khả năng duy trì cuộc sống.

Tâm thế buông xuôi “nằm thẳng” xuất hiện trên mọi ngóc ngách mạng xã hội

Chỉ cần tìm từ khoá “nằm thẳng” trên mạng xã hội TikTok, Threads, v.v. là chúng ta có thể xem được rất nhiều những chia sẻ của người lao động.

Người dùng Tiktok: “Khi nhận ra rằng làm cả đời cũng không mua được nhà”, “Nghĩ xưa ba mẹ mình cày cuốc 5 năm có 5 hecta rẫy trên Dak Lak nhà cửa, buôn gỗ, ngày nay làm s*l vẫn không thể mua được căn nhà”, “Tôi đã từng chỉ trích những người như này và giờ tôi đang như vậy, hàng ngày có đồ ăn ở nhà là được không làm quá nhiều.”

Người dùng Threads: “Tui trước cũng cố gắng đồ ghê lắm mấy mom. Rồi sau mấy năm đi làm, sống môi trường cạnh tranh, đấu đá công sở giờ bị bệnh về thần kinh luôn =)) nên giờ chọn lối sống y trên để đỡ rước bệnh về người, chọn công việc bình thường làm có tiền đủ lo thân, dư ít là được.”, “Nói sao nhỉ. Mình là thế hệ có làm đến già cũng không đủ tiền mua đất mua nhà. Mình ở ngoại thành Hà Nội, miếng đất rẻ cũng 2,3 tỷ. Đẹp thì 4, 5, 10 tỷ.” – trả lời cho bình luận này: “1. Là nằm thẳng, 2. Là liều. Chứ giờ bạn nào không có gia đình hậu thuẫn thì coi như là xong rồi đó, quay ra nằm thẳng thôi. Hẹ hẹ hẹ.”

Chia sẻ trực tiếp từ Chuyên gia hướng nghiệp Phoenix Ho

Từ góc nhìn của một người hành nghề trong lĩnh vực phát triển nghề nghiệp, dựa trên các lý thuyết nền tảng của lĩnh vực này, tôi mạn phép đề nghị một số giải pháp mang tính xây dựng cho thái độ sống “nằm thẳng” được nêu trên.

Một – Điều chỉnh khung tư duy tổng

Để giúp mỗi cá nhân thoát khỏi cảm giác hụt hơi khi cố gắng nhiều nhưng vẫn khó đạt được những nhu cầu vật chất cơ bản, người lao động có thể bắt đầu bằng câu hỏi:

“Trong giai đoạn này của đời mình, tôi có thể làm chủ phần nào?”

Mỗi cá nhân có thể lựa chọn:

  • làm chủ nhịp sống và năng lượng của bản thân (giờ làm – giờ nghỉ – khả năng hồi phục),
  • hoặc tập trung phát triển kiến thức và kỹ năng trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tiếp theo,
  • hoặc làm chủ cách bản thân gắn ý nghĩa vào công việc hiện tại, dù đó chưa phải là “nghề mơ ước”.

Việc lựa chọn làm chủ một khía cạnh cụ thể trong cuộc sống giúp mỗi cá nhân xác lập những kỳ vọng hợp lý, từng bước đạt được kỳ vọng ấy, từ đó gia tăng cảm giác mình đang tham gia kiến tạo cuộc đời của chính mình, thay vì chỉ bị cuốn theo hoàn cảnh.

Hai – Tái định nghĩa “nằm thẳng” như một giai đoạn tạm dừng phát triển, không phải thất bại

Ở tầng sâu hơn, “nằm thẳng” không phải là lười biếng, mà là một cơ chế tự bảo vệ, một phản ứng hợp lý của người lao động trước một hệ thống đã trở nên quá tải. Do đó, thay vì chống lại thái độ “nằm thẳng”, có thể định nghĩa lại nó như một “bình nguyên nghề nghiệp có chủ đích”.

Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, truyền thông và xã hội, thay vì nói “Bạn phải cố gắng hơn”, có thể nói:

“Có những giai đoạn mình không tiến lên, nhưng vẫn đang giữ mình không trượt xuống – và điều đó có giá trị.”

Trong giai đoạn này, nên khuyến khích cá nhân đang “nằm thẳng”:

  • thử những công việc nhỏ,
  • học các kỹ năng ngắn hạn,
  • gặp gỡ những con người mới,
  • và quan sát xem bản thân phản ứng thế nào với từng trải nghiệm.

Điều quan trọng không phải là ép họ phải có mục tiêu lớn, mà là hỗ trợ để họ không đóng băng hoàn toàn.

Ba – Ý nghĩa “đủ sống” trong từng vai trò

Trong văn hóa Việt Nam, người lao động không chỉ là “người làm nghề”, mà còn đồng thời là con cái, trụ cột tài chính, cha/mẹ tương lai, thành viên cộng đồng, bạn thân.

Một câu hỏi mà cá nhân đang trong trạng thái “nằm thẳng” có thể suy ngẫm là:

“Trong vai trò hiện tại, điều gì khiến tôi thấy đủ sống?”

Ví dụ:

  • Với vai trò người lao động: công việc này có giúp tôi ổn định, học được điều gì đó, và không làm tôi kiệt sức hay không?
  • Với vai trò con cái: tôi có đang phần nào giảm bớt gánh nặng cho gia đình?
  • Với vai trò cho chính mình: tôi có không gian nào để thở và để phát triển bản thân?

Bốn – Phân vùng kiểm soát

Như bài viết đã chỉ ra, người lao động tại Việt Nam rất dễ rơi vào cảm giác bất lực khi nhà ở, thu nhập hay thị trường lao động đều nằm ngoài tầm kiểm soát. Thay vì cố gắng “làm chủ mọi thứ”, mỗi cá nhân có thể học cách phân biệt rõ:

điều gì không kiểm soát được – điều gì kiểm soát được một phần – và điều gì hoàn toàn kiểm soát được.

Ví dụ:

  • Không kiểm soát được: giá nhà, kinh tế vĩ mô.
  • Kiểm soát được một phần: ngành nghề theo đuổi, nơi làm việc, kỹ năng muốn phát triển.
  • Hoàn toàn kiểm soát được: cách học, nhịp làm việc, ranh giới cá nhân.
  • Nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển nghề nghiệp cho thấy, niềm tin vào năng lực bản thân tăng lên khi con người cảm nhận được mình đang làm chủ những việc nhỏ và cụ thể, chứ không phải khi cố gắng chinh phục những mục tiêu quá khổng lồ.

Năm – Có một con đường của riêng mình

Trong bối cảnh mạng xã hội liên tục nói về thành công tài chính của rất nhiều người, điều người lao động cần tự nhắc mình là:

“Tôi không cần phải leo thang xã hội. Tôi cần một con đường đủ rõ để không lạc.”

Nói cách khác, không nhất thiết phải luôn theo đuổi những giấc mơ cực kỳ to lớn. Thay vào đó, hãy thực tế với con đường mà chính mình đang là người lữ hành.

Con đường ấy có thể bao gồm:

  • một nghề đủ nuôi sống hiện tại,
  • một kỹ năng có thể chuyển đổi,
  • một vùng ý nghĩa cá nhân nhỏ nhưng bền,
  • và một mạng lưới con người để không phải đi một mình.

Kết

“Nằm thẳng” không phải là điểm kết thúc của phát triển nghề nghiệp, mà là dấu hiệu cho thấy hệ thống kỳ vọng cũ đã không còn phù hợp. Thách thức của người lao động Việt Nam hôm nay không nằm ở việc “cố gắng hay buông xuôi”, mà ở việc tìm ra những con đường phát triển vừa sức, có ý nghĩa và bền vững trong một thế giới nhiều bất định.
Phát triển nghề nghiệp vì thế không còn là leo cao, mà là học cách đứng vững, rồi bước tiếp khi có thể.

Cơ sở lý thuyết

  1. Savickas, M. L. Career construction theory.
  2. Pryor, R. G. L., & Bright, J. M. Chaos theory of careers.
  3. Super, D. E. Life-span, life-space theory.
  4. Rotter, J. B. Locus of control theory.
  5. Krumboltz, J. D. Planned happenstance theory.
  6. Role salience theory.
  7. Lent, R. W., Brown, S. D., & Hackett, G. Social cognitive career theory.

Các nguồn tham khảo:

  1. National Bureau of Statistics of China. (2024, January 17). Press release: National statistics.
  2. Tuổi Trẻ. (2025, November 3). Cục Thống kê nói gì về con số 1,6 triệu thanh niên 15-24 tuổi không việc làm, không học tập đào tạo.
  3. Reddit. (2021, January 9). Gen Z: Một thế hệ rác rưởi nằm thẳng không có lợi.
  4. MDPI. (2025). Journal of psychology: Career development and mental health.
  5. TikTok. (2025, March 1). TikTok video on career challenges for youth in Vietnam.
  6. VOV. (2025, May 10). Vì sao 22,2% người trẻ Việt không muốn kết hôn, sinh con?
  7. Vietnamnet. (2025, May 5). Housing prices surge beyond reach: More couples delay having children.
  8. Lao Động. (2025, April 10). Chuyên gia gợi ý cách chuẩn bị tài chính vững vàng để nuôi con.
  9. VnEconomy. (2025, May 5). Pressure from housing prices on low-income earners.

Bài viết Thế hệ nằm thẳng – Khi người lao động trẻ tuyên bố: “Tôi bỏ cuộc” đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
“Career break”: Khi nào bạn cần một khoảng nghỉ cho sự nghiệp? https://huongnghiepsongan.com/career-break-khi-nao-ban-can-mot-khoang-nghi-cho-su-nghiep/ Tue, 01 Apr 2025 03:16:07 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=26607 Tác giả: Hà Duy  Biên tập: Minh Thảo Phát triển vòng xoắn ốc trong nghề nghiệp Theo chuyên gia hướng nghiệp Phoenix Ho, vòng xoắn ốc là một ẩn dụ thú vị liên quan đến hành trình phát triển sự nghiệp của một cá nhân. Bởi lẽ, mỗi bước tiến trong công việc sẽ không ...

Bài viết “Career break”: Khi nào bạn cần một khoảng nghỉ cho sự nghiệp? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Tác giả: Hà Duy 

Biên tập: Minh Thảo

Phát triển vòng xoắn ốc trong nghề nghiệp

Theo chuyên gia hướng nghiệp Phoenix Ho, vòng xoắn ốc là một ẩn dụ thú vị liên quan đến hành trình phát triển sự nghiệp của một cá nhân. Bởi lẽ, mỗi bước tiến trong công việc sẽ không diễn ra theo một đường thẳng tuyến tính, từ điểm A đến điểm B, rồi từ điểm B đến điểm C, mà là một chuỗi tháng ngày lên bổng, xuống trầm

Với cách tiếp cận này, quá trình vươn mình lên tới đỉnh cao sự nghiệp (nơi có hình ngôi sao màu vàng) đòi hỏi người đi làm phải học hỏi liên tục, thu thập kiến thức và trau dồi kỹ năng mới qua việc trải nghiệm và rèn luyện từ môi trường việc làm lẫn cuộc sống xung quanh. 

Thế nhưng, sau mỗi đỉnh cao sự nghiệp là những đường đi xuống. Điều này xảy ra do người đi làm cần thay đổi hướng đi, hoặc do những bước ngoặt và biến động không ngờ bởi yếu tố ngoại cảnh. Vì vậy, tại những thời điểm nút thắt của sự nghiệp (nơi có hình ngôi sao màu hồng), người đi làm cần tự nhìn lại bản thân, đánh giá một lần nữa sở thích, năng lực hành nghề và động lực nghề nghiệp để tái xác định mục tiêu, dẫn đến sự điều chỉnh con đường nghề nghiệp phù hợp.

Thế mới thấy, hành trình phát triển nghề nghiệp không phải lúc nào cũng “màu hồng”. Thành công vẫn luôn song hành với sự thất bại, những bước dậm chân tại chỗ, hoặc thậm chí phải bước lùi để tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng mới, tạo sức bật cho chặng đường tiếp theo. Vì vậy, đừng ngại để cho mình một khoảng nghỉ, bạn nhé!

Lùi lại để bước tiếp

“Career break” là khoảng thời gian bạn lựa chọn để dừng chân, tạm gác lại công việc bộn bề để tập trung cho những mục tiêu khác ngoài sự nghiệp. Chẳng hạn như hồi phục sức khỏe, chăm sóc gia đình, học hỏi những điều mới, hoặc chỉ đơn giản là tìm lại định hướng nghề nghiệp cho bản thân. Với nhiều người, đây có lẽ là một thuật ngữ vừa quen, nhưng cũng thật lạ! Quen – vì ai trong chúng ta cũng từng có lúc cảm thấy bế tắc, kiệt sức và muốn tạm dừng để nhìn lại con đường sự nghiệp. Nhưng lạ – vì không phải ai cũng dám bước ra khỏi guồng quay công việc để nghỉ ngơi một cách có chủ đích.

Đôi khi, khoảng nghỉ trong sự nghiệp còn được nhìn nhận như một “khoảng trống” đáng lo ngại trong CV, thể hiện sự bất định hoặc thiếu cam kết với công việc của ứng viên. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, ngày càng nhiều người nhận ra rằng “career break” không chỉ là một sự tạm dừng hay lùi bước, mà còn là một “chiến lược” cần thiết để họ nạp lại năng lượng, tái định vị bản thân và chuẩn bị cho bước tiến xa hơn. Điều quan trọng là, ta biết khi nào cần tạm dừng và làm thế nào để tận dụng khoảng thời gian đó một cách hiệu quả.

Đâu là các dấu hiệu cho thấy bạn đang cần “career break”?

Dấu hiệu đầu tiên là cảm giác kiệt sức, chán nản, thiếu động lực, không còn sức sống hoặc niềm vui trong công việc. Mỗi ngày thức giấc đều không muốn đi làm, mắc kẹt và “chiến đấu” với suy nghĩ đi hay ở; lúc chiều về thì lòng nặng trĩu khi nghĩ đến ngày mai. Cứ như thế, vòng lặp vẫn tiếp diễn đều đặn, không hồi kết.

Sau đó là hành vi tự dán nhãn bản thân rằng mình rất tệ, thiếu năng lực, kèm theo nỗi lo lắng về khả năng của bản thân: “Mình có thực sự phù hợp với công việc?”, “Mình có thuộc về nơi này?”. Như hình tròn không thể khớp vào khuôn hình vuông, bạn cứ ép mình phải làm việc dù còn đang rối bời và ngổn ngang trong suy nghĩ lẫn hành động, dù càng ngày càng thấy gượng gạo và thiếu sự hòa hợp tự nhiên. 

Một dấu hiệu nữa là bạn đã đổi công việc vài lần. Mỗi lần nghỉ việc là quyết tâm đổi qua một nghề khác phù hợp hơn, để rồi một vài tháng sau lại nhận lời mời ở một vị trí tương tự vì thói quen, vì áp lực tài chính, và vì nỗi lo thiếu năng lực để chuyển đổi sang một nghề khác hoàn toàn. Mọi chuyện có vẻ ổn ở giai đoạn đầu trong môi trường lạ, khi cần học hỏi nhiều thứ mới và chứng minh bản thân để qua thời kỳ thử việc. Song, khi mọi thứ vào guồng, vấn đề cũ lại quay về. Điều này cũng giống như việc nhổ răng khôn – nếu không xử lý dứt điểm, cơn đau sẽ lặp đi lặp lại. Mỗi lần trì hoãn chỉ là một giải pháp tạm thời, giúp xoa dịu cơn đau trong chốc lát, nhưng chẳng mấy chốc, nó sẽ đâu lại vào đó, có khi còn nghiêm trọng hơn.

Hành động quyết liệt để tạo ra sự thay đổi

Nếu bạn thấy mình đâu đó trong câu chuyện này, xin hãy nhớ rằng bạn không hề đơn độc. Rất nhiều người cũng đã từng chênh vênh, loay hoay trước những ngã rẽ nghề nghiệp, giống như bạn. Nhưng điều quan trọng là, ai cũng có thể tìm cho mình một hướng đi rõ ràng, hướng đến một tương lai rộng mở hơn. Để làm được điều đó, đôi khi chúng ta cần đủ dũng khí, sự can đảm để dừng lại, rời bỏ điều quen thuộc, và bắt đầu lại với một tâm thế vững vàng hơn. Hãy thử lắng lòng và tự hỏi bản thân:

  • Mình có đang đối mặt với những nút thắt trong sự nghiệp hay không?
  • Mình có cần một khoảng dừng để tìm lại động lực và hướng đi?
  • Mình có đang chần chừ, do dự khi đưa ra quyết định quan trọng?

Nếu câu trả lời là có, và bạn vẫn đang loay hoay không biết bắt đầu từ đâu, hành động như thế nào, thương mời bạn đến với Career Retreat – Tái định hướng sự nghiệp tại Ba Vì, Hà Nội vào tháng 6; và Đà Lạt vào tháng 8 này. Đây sẽ là không gian để bạn:

  • Nhìn lại những nốt thăng trầm trong hành trình sự nghiệp của mình
  • Tự gọi tên những vấn đề đang khiến bản thân băn khoăn, trì hoãn
  • Định hình bước đi cụ thể để bắt đầu tháo gỡ nút thắt nghề nghiệp
  • Lập kế hoạch phát triển bản thân cho những năm tiếp theo

Việc đối diện với bản thân và bắt đầu lại hành trình phát triển nghề nghiệp là điều không hề dễ dàng. Vì vậy, nếu bạn lo lắng khi đi trên con đường này một mình, Sông An sẽ đồng hành cùng bạn vượt qua bước ngoặt khó khăn này, bạn nhé!

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bài viết “Career break”: Khi nào bạn cần một khoảng nghỉ cho sự nghiệp? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Nên nghĩ gì khi có ý định chuyển việc? https://huongnghiepsongan.com/nen-nghi-gi-khi-co-y-dinh-chuyen-viec/ Mon, 09 Dec 2024 15:05:15 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=25204 Tác giả: Thanh Tâm Biên tập: Minh Thảo Theo một khảo sát của JobStreet.com năm 2022, có đến 66% người lao động tại Việt Nam có kế hoạch tìm kiếm một công việc mới sau Tết. Đây là con số khá cao, cho thấy nhu cầu tìm kiếm cơ hội mới trong năm mới là ...

Bài viết Nên nghĩ gì khi có ý định chuyển việc? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Tác giả: Thanh Tâm

Biên tập: Minh Thảo

Theo một khảo sát của JobStreet.com năm 2022, có đến 66% người lao động tại Việt Nam có kế hoạch tìm kiếm một công việc mới sau Tết. Đây là con số khá cao, cho thấy nhu cầu tìm kiếm cơ hội mới trong năm mới là mục tiêu của không ít người. Thế nhưng, làm sao để đảm bảo lần chuyển việc này suôn sẻ? Làm sao biết được công việc tiếp theo là phù hợp với bạn? Và làm sao để không rơi vào vòng lặp chán rồi chuyển, chuyển rồi thất vọng?

Nếu bạn cũng đang có dự định “nhảy việc”, thì có thể cùng tôi tham khảo các ý tưởng thú vị trong cuốn sách “Job Moves – 9 steps for making progress in your career” (tạm dịch: Bước nhảy công việc – 9 bước tạo lộ trình thăng tiến). Cuốn sách là một thành phẩm nghiên cứu của nhóm tác giả Ethan Bernstein, Michael B. Horn, Bob Moesta và vừa được ra mắt trong tháng 11 vừa qua. 

Để chọn được điểm đến phù hợp tiếp theo trong sự nghiệp, trước khi hành động, ta có thể bắt đầu với 3 ý nghĩ sau:

1. Nghĩ về trải nghiệm bạn muốn có trong công việc trước khi xem xét đặc điểm bạn mong muốn ở nó (Think of “experience” before “features”

Khi trả lời câu hỏi “Bạn muốn công việc tiếp theo sẽ trông như thế nào?”, ta thường đề cập ngay đến các đặc điểm hay quyền lợi lý tưởng. Tôi từng trả lời không đắn đo rằng “Mình cần một công việc trả lương cao hơn”. Điều đó không sai, thậm chí rất thực tế. Chỉ là, ai cũng khao khát những điều kiện lý tưởng này nên ta khó lòng tìm được một công việc thực sự phù hợp. 

Trong khi đặc điểm công việc mong muốn thường có thể là chức danh, lương bổng, phúc lợi, v.v. thì trải công việc nghiệm mong muốn của mỗi người lại mang tính cá nhân hơn. Chúng có thể là cảm giác được trân trọng và tôn trọng, cơ hội được thử thách và được đóng góp nhiều hơn, hay được tạo điều kiện để cân bằng giữa cuộc sống cá nhân và công việc, v.v.  

Thực tế, ta không cần phải loại bỏ các mong muốn về quyền lợi khi chọn lựa công việc mới. Hãy cứ liệt kê chúng ra và trả lời thêm hai câu hỏi mà nhóm tác giả đề xuất, để nhận diện được trải nghiệm mình mong muốn trong tương lai:

  1. Bạn muốn công việc tiếp theo sẽ thúc đẩy hoặc tiếp thêm năng lượng cho bạn thế nào?
  2. Bạn muốn công việc mới có thể tận dụng khả năng của bạn thế nào?

2. Nghĩ về động lực thúc đẩy (pushes) và động lực thu hút (pulls) của công việc mới

Đến đây, nếu vẫn chưa xác định được trải nghiệm công việc cần ưu tiên, Job Moves giới thiệu tới độc giả một cặp định nghĩa mới: động lực thúc đẩy (pushes) và động lực thu hút (pulls). Cả hai tồn tại song song ở những người thực hiện bước chuyển việc và phản ánh nguyên nhân bạn muốn chuyển việc. 

Động lực thúc đẩy (pushes) đề cập đến các yếu tố kích hoạt một người thực hiện chuyển việc, bước ra khỏi tình trạng hiện tại. Một số động lực thúc đẩy phổ biến là:

  • Tôi không tôn trọng và không tin tưởng những người cùng làm việc với tôi
  • Tôi cảm thấy công việc mình đang làm có rất ít hoặc không có đóng góp tích cực gì cho tổ chức, thế giới hoặc cuộc sống của cá nhân tôi 
  • Áp lực từ cách quản lý hiện tại khiến tôi luôn trong trạng thái mệt mỏi

Động lực thu hút (pulls) đề cập đến yếu tố thu hút một người hướng tới những điều mới mẻ ở công việc sắp tới. Một số động lực thu hút phổ biến là:

  • Tôi có thêm thời gian cho các mối quan hệ ngoài công việc
  • Giá trị và niềm tin của tôi cộng hưởng với giá trị của công ty và những người tôi cùng làm việc 
  • Công việc tương thích hơn với cuộc sống cá nhân của tôi

Để hỗ trợ mỗi người tự xác định động lực của mình, nhóm tác giả Job Moves cũng công bố bảng khảo sát cùng tên tại đây (phiên bản tiếng Anh). Khảo sát bao gồm các trắc nghiệm nhằm xác định động lực thúc đẩy và thu hút của một người, sau đó trả về kết quả là một mục tiêu nổi trội bạn đang tìm kiếm trong lần chuyển việc này:

  • Thoát ra (Get out)
  • Lấy lại quyền kiểm soát (Regain Control)
  • Tái định hướng (Regain alignment)
  • Tiến tới bước tiếp theo (Take the next step)

Một người có thể có nhiều hơn một mục tiêu trong một lần nhảy việc nhưng sẽ có một mục tiêu nổi trội hơn cả. Kết quả này sẽ cho bạn thêm góc nhìn, là một cơ sở để bạn tự tin lựa chọn điểm đến tiếp theo trong sự nghiệp. Hoặc ít nhất, bạn sẽ không mắc sai lầm quá lớn để chuyển rồi lại thất vọng.

Tin vui là Sông An – được sự đồng thuận của nhóm tác giả Job Moves – đang thực hiện chuyển ngữ bảng khảo sát sang tiếng Việt, để đông đảo người đi làm có thể tiếp cận dễ dàng hơn. Cùng đón chờ cập nhật từ Sông An nhé!.

3. Nghĩ về những lần chuyển việc trong quá khứ

Trung bình một người có 12 lần chuyển việc trong sự nghiệp và cá nhân tôi đã trải qua 5 lần như thế. Nhìn lại, những lần chuyển ấy đều có một điểm chung: khi quá kiệt sức thì chuyển. Và mục tiêu chuyển việc của tôi trong quá khứ thường là để “Thoát ra”. Mục tiêu ấy xuất hiện thường xuyên và tạo ra một vòng lặp luẩn quẩn, khiến tôi không thấy bản thân tiến bộ trên con đường sự nghiệp cá nhân. 

Tuy nhiên, nhìn được xu hướng hành vi của mình lại chính là cột mốc quan trọng, thúc đẩy ta hành động và suy nghĩ khác đi để có kết quả tốt đẹp hơn. Sau nhiều lần chuyển việc, tôi đã chậm rãi hơn để thực hiện các bước hiểu mình, lập kế hoạch và tìm kiếm sự trợ giúp phù hợp. Vì thế, trong cuốn Job Moves, còn có một ý mà tôi rất đồng cảm và muốn nhắn gửi bạn: “Learn before switching, not by switching” (tạm dịch: Chúng ta hãy học-hiểu về bản thân trước khi chuyển việc, thay vì nhận ra một bài học nhờ thay đổi công việc). Tôi tin rằng hai ý nghĩ nêu trên đã có thể giúp dự định chuyển việc của bạn trở nên rõ ràng hơn phần nào.

Tiếp theo:

Cầu chúc cho chúng ta luôn sáng suốt, đạt được mục tiêu khi có dự định chuyển việc, và mỗi lần chuyển là một lần được nâng cấp bản thân.

Tài liệu tham khảo:

Ethan Bernstein & Michael B. Horn & Bob Moesta (2024). Job Moves – 9 steps for making progress in your career.

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bài viết Nên nghĩ gì khi có ý định chuyển việc? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Khi nghề nghiệp xác quyết bỗng không còn ý nghĩa https://huongnghiepsongan.com/khi-nghe-nghiep-xac-quyet-bong-khong-con-y-nghia/ Tue, 03 Dec 2024 08:27:41 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=25110 Tác giả: Minh Thảo Biên tập: Thanh Tâm Khi nghề nghiệp xác quyết bỗng trở nên vô nghĩa Khi các nền tảng mạng xã hội ngày càng phát triển và trở thành một phần không thể thiếu của lối sống hiện đại, chúng ta cũng bắt gặp nhiều câu chuyện cá nhân, hay những trải ...

Bài viết Khi nghề nghiệp xác quyết bỗng không còn ý nghĩa đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Tác giả: Minh Thảo

Biên tập: Thanh Tâm

Khi nghề nghiệp xác quyết bỗng trở nên vô nghĩa

Khi các nền tảng mạng xã hội ngày càng phát triển và trở thành một phần không thể thiếu của lối sống hiện đại, chúng ta cũng bắt gặp nhiều câu chuyện cá nhân, hay những trải nghiệm được giải bày hơn. Trong đó, tôi gặp khá nhiều chia sẻ của những người trẻ vừa ra trường, đã đi làm được vài năm, kể về sự trống rỗng bên trong họ mỗi khi nghĩ về nghề nghiệp. Dù là một người học tập, làm việc trong nước hay du học sinh học tập và sinh sống tại nước ngoài, và dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, điểm chung trong câu chuyện của họ chính là: sau một khoảng thời gian làm việc, họ chợt nhận ra công việc mà họ hằng theo đuổi không thực sự là điều mình mong muốn.

Với A, quyết định theo đuổi lĩnh vực tài chính đã sớm định hình vào những năm đầu tiên, sau khi A cùng gia đình định cư ở một đất nước mới. A miệt mài đi thẳng trên con đường hướng đến mục tiêu đã chọn, từ việc nỗ lực ở những năm THPT để được thi vào chương trình Tài chính tại một trường Đại học nổi tiếng, tham gia những dự án nghiên cứu khi đang là sinh viên, lấy chứng chỉ chuyên ngành, đến tìm kiếm những cơ hội thực tập chất lượng. Công sức và sự tập trung đã được đền đáp khi A ứng tuyển thành công vào một vị trí với mức lương cao khi vừa tốt nghiệp. Những tưởng bản thân sẽ tiếp tục gặt hái quả ngọt trên con đường này, thế nhưng càng làm lâu, A càng nhận ra công việc này không thật sự phù hợp với mình. Những con số, công thức, mô hình mà A đã dành thời gian học tập, nghiên cứu suốt bao năm nay giờ lại trở nên khô khan, nhàm chán và không hề gợi lên một chút hứng thú nào trong công việc. Tuy có một vị trí công việc đáng mơ ước, A lại chẳng có động lực để đi làm mỗi sáng.

Khác với A, H đã sớm nhận ra bản thân mình không quá hứng thú với ngành kế toán. Tuy nhiên, vì không tìm ra một phương án khác để cân nhắc, H vẫn chọn theo học và làm việc trong ngành này, một phần vì tính ổn định của công việc, và phần còn lại nhờ có sự cổ vũ của gia đình vốn cũng có nhiều người làm công việc kế toán. Thế nhưng, trong công việc hiện tại, H “vật lộn” để đến công ty vào buổi sáng, và ngóng chờ đến lúc ra về. H cố gắng làm đúng trách nhiệm của mình mà không có kế hoạch phát triển bản thân, năng lực chuyên môn. H nhận ra rằng trong một thời gian dài, mình đã rơi vào chế độ “lái tự động” – chế độ lười biếng của não bộ, để thói quen và lối mòn dẫn dắt thay vì suy nghĩ hay tập trung cao độ.

Lý do nào đưa đến kết quả này?

Với A, sau khi dành rất nhiều thời gian để tự vấn bản thân, A nhận ra rằng lý do ban đầu khiến mình chọn theo lĩnh vực tài chính là lương cao. Cuộc sống mới ở xứ lạ với nhiều khó khăn tài chính đã hình thành trong A niềm thôi thúc kiếm thật nhiều tiền để giúp đỡ gia đình. Mong ước mạnh mẽ đó đã dẫn dắt A suốt một chặng đường dài nhưng ước mơ đó cũng nhanh chóng cạn kiệt khi không được nuôi dưỡng bằng những yếu tố nội tại có tính bền vững.

Phần đông trong chúng ta lựa chọn hướng đi nghề nghiệp dựa vào những “quả ngọt” như lương cao, sự ổn định, công ty nổi tiếng, mà không cân nhắc đến gốc rễ của mình gồm các yếu tố Sở thích, Khả năng, Cá tính và Giá trị nghề nghiệp. Nói cách khác, mỗi người buộc phải có năng lực thấu hiểu bản thân trước khi chọn nghề, nhưng chúng ta lại làm ngược lại – chọn nghề trước, và không nắm chắc được liệu rằng ta có thể đi đường dài với nghề nghiệp đó hay không.

Càng khó khăn hơn nữa, có những lựa chọn không khớp với sở thích, cá tính, hay giá trị nghề nghiệp của một người, nhưng người đó lại có đủ khả năng theo đuổi nó. Cứ như vậy, họ mải miết trên con đường sự nghiệp “tưởng chừng là phù hợp”, cho đến khi yếu tố “năng lực” không còn đủ sức để tiếp tục nâng đỡ họ đi xa hơn trên con đường sự nghiệp. Đây cũng chính là tình huống mà A và H gặp phải khi bỏ qua sự thấu hiểu bản thân để lựa chọn ngành nghề. 

Để có thể thu hoạch “quả ngọt” sự nghiệp lâu dài, điều cơ bản nhất mà chúng ta phải lưu tâm chính là có một công việc phù hợp với sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của bản thân.

Nếu bạn có cảm giác “ngờ ngợ” rằng bản thân cũng có một khởi đầu tương tự như A và H, nhưng bạn vẫn còn “nhiên liệu” để tiếp tục đi trên con đường nghề nghiệp đã chọn, Sông An mong rằng chia sẻ này là một “tín hiệu” nhắc bạn suy nghĩ thêm về tình hình của mình. Từ đó, bạn có thể lập kế hoạch nghề nghiệp để chủ động, hạn chế những tình huống tiêu cực có thể phát sinh.

Nếu bạn không còn động lực tiếp tục công việc hiện tại, muốn tìm hiểu rõ nguyên do và lập kế hoạch hành động để vượt qua khó khăn này, đừng bỏ lỡ chuyến đi Career retreat – Tái định hướng sự nghiệp cùng Sông An vào tháng 12 này tại Đà Lạt.

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bài viết Khi nghề nghiệp xác quyết bỗng không còn ý nghĩa đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Late bloomers: Thành công muộn không phải là dấu chấm hết https://huongnghiepsongan.com/late-bloomers-thanh-cong-muon-khong-phai-la-dau-cham-het/ Tue, 19 Nov 2024 14:23:29 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=24929 Tác giả: Hà Duy Biên tập: Thanh Tâm Một góc nhìn khác về thành công Trong xã hội hiện đại, chúng ta thường bị cuốn vào câu chuyện “phi thường” của những người trẻ sớm đạt được thành tựu khi mới chớm đôi mươi.  “Nữ sinh lớp 12 đậu học bổng 10 tỷ đồng từ ...

Bài viết Late bloomers: Thành công muộn không phải là dấu chấm hết đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Tác giả: Hà Duy

Biên tập: Thanh Tâm

Một góc nhìn khác về thành công

Trong xã hội hiện đại, chúng ta thường bị cuốn vào câu chuyện “phi thường” của những người trẻ sớm đạt được thành tựu khi mới chớm đôi mươi. 

“Nữ sinh lớp 12 đậu học bổng 10 tỷ đồng từ trường đại học danh giá nhất thế giới”

“Chàng trai 20 tuổi hé lộ thu nhập khủng từ công việc trong mơ”

Hay “Lắng nghe chia sẻ kinh nghiệm làm quản lý của một bạn trẻ gen Z”

Ắt hẳn, đâu đó ta vẫn luôn bắt gặp các tiêu đề như vậy trên những mẩu tin hay tờ báo hằng ngày. Ở một chừng mực nhất định, sự trỗi dậy của những tài năng trẻ hay “con nhà người ta” đã và đang khiến nhiều người bị đè nặng, thậm chí ám ảnh với áp lực phải thành công càng nhanh càng tốt, để bắt kịp với số đông và tiêu chuẩn mới của xã hội. Tuy nhiên, đã bao giờ bạn tự hỏi: Thành công có thực sự cần đến đúng thời điểm? Và liệu, thành công sớm có phải là thước đo duy nhất để đánh giá tài năng, giá trị và đóng góp của một người?

Với chúng tôi, thành công sớm hay muộn cũng là điều đáng quý, vì nó ghi lại dấu mốc và hành trình trưởng thành của mỗi người. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến “late bloomers” – những đóa hoa nở muộn để đem đến một góc nhìn khác về thành công, từ đó giúp bạn gỡ bỏ những nút thắt về hành trình phát triển nghề nghiệp và vững bước hơn trên con đường phía trước.

Không ai là “đóa hoa nở muộn”

Thực tế cho thấy, không phải ai cũng thành công ở giai đoạn đầu của sự nghiệp. Late bloomers – những người đạt được thành tựu ở độ tuổi muộn hơn so với kỳ vọng chung của xã hội là một phần trong số đó. 

Tác giả Henry Oliver đã từng đề cập đến vấn đề này trong cuốn sách Second act: “Không quan trọng số tuổi của bạn cụ thể là bao nhiêu, chỉ cần bạn đạt đến thành công trễ hơn độ tuổi kỳ vọng, vậy thì bạn đã được dán nhãn late bloomers”. 

Dường như, thành công vẫn đang bị “đóng khuôn” bởi giới hạn của tuổi tác. Một điều đáng nói hơn, đó là sợi dây giới hạn này đang dần bị rút ngắn khi chuẩn mực về thành công đang ngày càng “trẻ hóa”. Khắp cõi mạng xã hội, không ít bài viết nổi lên về những người trẻ hai mươi mấy tuổi đã có nhà đẹp xe sang, công việc trong mơ hay con đường thăng tiến vượt bậc. Nếu vậy, với những người bình thường như chúng ta, không thu nhập khủng, cũng chẳng có chức danh to thì có được xem là “muộn màng”?

Theo lý thuyết Cầu vồng Cuộc sống – Nghề nghiệp của Donald E. Super, mỗi người có những con đường phát triển nghề nghiệp khác nhau, và bạn hoàn toàn có thể điều chỉnh các giai đoạn sao cho phù hợp với hoàn cảnh và mục tiêu cá nhân của mình. Những rập khuôn theo tuổi tác thường thấy như “phải đạt được thành công ở tuổi 25” hay “phải ổn định sự nghiệp trước 40” chỉ tạo thêm áp lực không cần thiết. Thay vào đó, bạn có thể bỏ qua những giai đoạn không phù hợp hoặc lặp lại các giai đoạn phù hợp, nếu điều đó mang lại niềm vui và sự trọn vẹn. 

Việc bước ra khỏi lối mòn sẽ khiến bạn khác biệt với số đông, thậm chí gặp khó khăn trong việc tìm kiếm sự đồng cảm và thấu hiểu. Thế nhưng, điều quan trọng hơn cả, đó là bạn cảm thấy hạnh phúc khi đang sống đúng trong giai đoạn phù hợp với bản thân. Bởi vậy, khái niệm tuổi tác già hay trẻ, thành công sớm hay muộn, chỉ mang tính tương đối. Thành công không nhất thiết phải được đo bằng tốc độ mà có thể là trải nghiệm cuộc sống và những niềm vui nhỏ bé xung quanh. 

Nên nhớ rằng, hành trình của mỗi người là duy nhất, không ai có xuất phát điểm, kinh nghiệm, sở trường hay mối quan hệ giống nhau. Chính vì thế, thời điểm chạm đến thành công của mỗi người cũng sẽ khác đi ít nhiều. Khi nhận ra điều này, bạn sẽ không còn bị ràng buộc bởi tuổi tác hay những tiêu chuẩn xã hội. Bạn cũng sẽ biết rằng, không ai thực sự là “một bông hoa nở muộn”, mà chỉ đơn giản là mỗi bông hoa sẽ nở rộ vào thời điểm phù hợp nhất với mình.

Học cách nở hoa

Trong cuốn sách Late Bloomers: The Power of Patience in a World Obsessed with Early Achievement, tác giả Rich Karlgaard đưa ra lời khuyên dành cho những “late bloomers” chưa kịp nở hoa, đó là hãy thử “thay một chiếc chậu phù hợp” và xây dựng một môi trường sống đủ tốt để giúp hoa nở rộ. Tuy nhiên, không tồn tại một chiếc chậu hoàn hảo. Việc chúng ta cần làm là bắt đầu thay đổi từ những điều đơn giản nhất. Dù ở bất kỳ độ tuổi nào hay làm bất cứ công việc gì, tinh thần học hỏi, dấn thân và sẵn sàng thử thách luôn cần được trau dồi. 

Trong sự nghiệp, đừng thấy mình mãi chưa tỏa hương mà nản lòng, cũng đừng vì một lần nở rộ mà phai nhạt theo thời gian. Hãy định hướng cho mình một con đường phát triển nghề nghiệp phù hợp, bền vững để mỗi việc mình làm đều cảm thấy ý nghĩa và hạnh phúc. Nếu cần sự đồng hành để tạo ra thay đổi mạnh mẽ hơn, thương mời bạn đến với Career Retreat vào tháng 12 này. Đây là cơ hội để bạn hòa mình vào cỏ cây và đi tìm hương sắc cho sự nghiệp, dưới lăng kính của hướng nghiệp khoa học.

Tài liệu tham khảo:

Karlgaard, R. (2019). Late Bloomers: The Power of Patience in a World Obsessed with Early Achievement.

Oliver, H. (2024.). Second Act: What Late Bloomers Can Tell You About Success and Reinventing Your Life.

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bài viết Late bloomers: Thành công muộn không phải là dấu chấm hết đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Những thời điểm trong sự nghiệp bạn cần chủ động tìm kiếm sự trợ giúp https://huongnghiepsongan.com/nhung-thoi-diem-trong-su-nghiep-ban-can-chu-dong-tim-kiem-su-tro-giup/ Sat, 02 Nov 2024 03:20:41 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=24675 Tác giả: Thanh Tâm Biên tập: Minh Thảo Sự nghiệp của mỗi người là một hành trình dài với đầy những thử thách và cơ hội. Có lúc, chúng ta tự tin tiến về phía trước, nhưng cũng có thời điểm, ta rất cần sự hỗ trợ để vượt qua khó khăn và đạt được ...

Bài viết Những thời điểm trong sự nghiệp bạn cần chủ động tìm kiếm sự trợ giúp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Tác giả: Thanh Tâm

Biên tập: Minh Thảo

Sự nghiệp của mỗi người là một hành trình dài với đầy những thử thách và cơ hội. Có lúc, chúng ta tự tin tiến về phía trước, nhưng cũng có thời điểm, ta rất cần sự hỗ trợ để vượt qua khó khăn và đạt được mục tiêu. Tuy nhiên, chủ động xin trợ giúp không phải là thói quen của nhiều người. Tâm lý ngại làm phiền người khác, sợ bị đánh giá là kém cỏi hay cảm thấy tự ái khiến nhiều người chọn cách “ôm” mọi việc vào mình, dù đang thật sự chật vật.

Sự thật là: việc che giấu khó khăn lại chính là lý do khiến bạn khó vượt qua thách thức hoặc dễ mắc lại sai lầm cũ, bởi những thói quen trong cách nghĩ và giải quyết vấn đề. Chủ động tìm kiếm sự trợ giúp chính là chủ động tìm kiếm góc nhìn, giải pháp và phương tiện mới để gỡ nút thắt của mình. 

Vậy khi nào bạn nên chủ động tìm kiếm sự trợ giúp trong sự nghiệp? Dưới đây là một vài gợi ý:

1 – Khi bạn cảm thấy quá tải

Công việc dồn dập, áp lực từ cấp trên, hay sự xung đột từ các vai trò khác nhau trong cuộc sống cá nhân, v.v. thường là lý do khiến bạn quá tải. 

Lúc này, điều bạn cần làm chính là tự giảm tải cho mình, bắt đầu bằng việc chia sẻ khó khăn đến sếp hoặc đồng nghiệp, người thân. Họ có thể san sẻ nhiệm vụ, cho lời khuyên để bạn sắp xếp lịch làm việc và tái tạo năng lượng cho mình. Thế nhưng, tình trạng quá tải chỉ nên được diễn ra ở một số giai đoạn nhất định: khi bạn mới làm quen công việc, khi bạn đảm nhận vai trò mới, hoặc khi bạn “vào mùa chạy KPI”. Còn nếu tình trạng này kéo dài và bạn có xu hướng “sống chung với lũ” thì hãy cẩn thận! Có thể vấn đề của bạn không đơn giản là quá tải mà là sự thiếu kết nối với công việc, chưa biết cách chăm sóc bản thân hoặc các khó khăn khác mà bạn chưa thể gọi tên. 

Để nhận diện khó khăn của mình, bạn có thể sử dụng công cụ Bảng đánh giá khó khăn nghề nghiệp miễn phí mà Sông An đã dịch từ thang đo “Career Difficulties Inventory” của Tiến sĩ Shékina Rochat. 

2 – Khi bạn cảm thấy thiếu kiến thức/kỹ năng

Khi bạn lúng túng với việc sử dụng máy móc, công nghệ mới; khi bạn có nhu cầu tự động hóa để tiến độ công việc nhanh hơn, hoặc nhiệm vụ bạn được giao yêu cầu những năng lực cao hơn, v.v. nhưng chưa biết phải thực hiện ra sao, đó là lúc bạn nên nghĩ đến việc trau dồi bản thân. Một trong những cách học hỏi hiệu quả nhất chính là nhờ đến sự trợ giúp từ những người hiểu về lĩnh vực đó.

Yêu cầu cao và sự phát triển không ngừng của thế giới hiện đại đã thúc đẩy sự xuất hiện của một khái niệm mới: “learning-worker” – những người đi làm có khả năng học hỏi và thích ứng cao trong quá trình làm việc. Để tối ưu hóa công việc và không bị lạc hậu, hãy chủ động tìm kiếm sự trợ giúp để đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó cho năng lực của mình: nhanh hơn, giỏi hơn hay sâu sắc hơn. Bạn có thể xin lời khuyên từ các bậc tiền bối và kể cả hậu bối trong nghề, tham gia các khóa học, workshop, đọc sách chuyên ngành hay tìm đến các hội nhóm có chung mối quan tâm để trao đổi kinh nghiệm. 

3 – Khi bạn gặp khó khăn tài chính

Nhiều người trong chúng ta có xu hướng giấu nhẹm các khó khăn tài chính, vì sợ làm phiền gia đình hoặc bị đánh giá bởi bạn bè, đồng nghiệp. 

Trong sự kiện “Nhìn lại và bước tiếp trên hành trình phát triển nghề nghiệp” diễn ra đầu năm 2024, chuyên gia Phoenix Ho đã chia sẻ một quan sát thú vị từ kinh nghiệm lâm sàng của mình: nam giới thường có xu hướng che giấu khó khăn tài chính nhiều hơn so với nữ giới. Điều này có thể xuất phát từ áp lực và trách nhiệm của những người chồng, những ông bố đang là trụ cột gia đình. Thế nhưng, khi các vấn đề tài chính ít nhiều được giải quyết, bạn mới cảm thấy nhẹ nhõm và có thể tập trung tốt hơn cho sự nghiệp. Vì thế, khi khó khăn, hãy học cách can đảm “giơ tay” xin hỗ trợ từ những người thân cận. Sự hỗ trợ đó có thể là sự lắng nghe, đồng hành hoặc hỗ trợ về mặt vật chất để đáp ứng nhu cầu cơ bản. Trong nhiều trường hợp khác, bạn có thể cẩn trọng tìm kiếm sự trợ giúp từ các tổ chức tài chính uy tín bên ngoài. 

4 – Khi bạn cần tái định hướng sự nghiệp

Thông thường, nhu cầu tái định hướng sự nghiệp xuất hiện khi chúng ta liên tục cảm thấy “sai” hoặc “không ổn” trong mối quan hệ của mình với công việc. Cảm giác này không hoàn toàn phản ánh năng lực làm việc của bạn, bạn vẫn có thể hoàn thành tốt vai trò nhưng vẫn mang cảm giác “sai sai” khó lý giải. Điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, ví dụ như: công việc đòi hỏi bạn phải sử dụng những kỹ năng gây kiệt sức mỗi ngày, bạn cảm thấy mình đang ở trong một môi trường không phù hợp, hoặc những giá trị bạn từng yêu thích trong công việc nay đã không còn nữa. 

Những lúc như thế, sự trợ giúp hữu ích đầu tiên phải đến từ chính bạn! Hãy cho phép bản thân nghỉ ngơi và dành thời gian nhìn lại hành trình đã qua, từ đó xác định những giá trị cốt lõi của bản thân và mục tiêu nghề nghiệp cho tương lai. Mô hình chìa khóa xây dựng kế hoạch nghề nghiệp có thể là một công cụ hữu ích giúp bạn tự mình thực hiện điều này.

Nhưng nếu vấn đề của bạn nhập nhằng hơn, bạn cần sự hỗ trợ từ những quân sư – người có thể cùng bạn giải bài toán phát triển sự nghiệp bền vững dựa trên nền tảng hướng nghiệp khoa học. 

Hằng năm, Sông An thường tổ chức chương trình Career Retreat – chuyến đi 3 ngày 2 đêm giúp tái định hướng sự nghiệp, dành riêng cho người đi làm. Những người tìm đến chương trình có nhiều trải nghiệm và yêu cầu khác nhau. Song, điểm chung là họ đang rất quyết liệt làm rõ mục tiêu tiếp theo của mình và cần biết cách thiết kế lộ trình vừa sức, phù hợp. 

Đây là một trong những chương trình giá trị nhất dành cho người đi làm vì trong chuyến đi, bạn sẽ trực tiếp nhận sự hỗ trợ và đồng hành của các chuyên gia để “giải bài toán” của mình.

Mời bạn tham khảo thêm thông tin tại đây


Sau cùng, chúc bạn luôn can đảm “giơ tay xin trợ giúp” và nhận được đủ đầy sự hỗ trợ bạn cần, trong suốt hành trình sự nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

https://www.forbes.com/sites/jacobmorgan/2016/06/07/say-goodbye-to-knowledge-workers-and-welcome-to-learning-workers/

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bài viết Những thời điểm trong sự nghiệp bạn cần chủ động tìm kiếm sự trợ giúp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>