Hướng nghiệp Sông An https://huongnghiepsongan.com/ Cứ đi để lối thành đường Wed, 29 Jul 2026 16:52:59 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.7 https://huongnghiepsongan.com/wp-content/uploads/2019/12/cropped-song-an-logo-32x32.jpg Hướng nghiệp Sông An https://huongnghiepsongan.com/ 32 32 Trưởng phòng Dịch vụ sinh viên https://huongnghiepsongan.com/ntvt-truong-phong-dich-vu-sinh-vien/ Wed, 29 Jul 2026 16:52:59 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=33105 1. Thông tin cơ bản Tuổi: 32 tuổi Giới tính: Nữ Số năm kinh nghiệm ở ngành nghề này: 7 năm Trình độ học vấn và chuyên ngành: Đại học Quốc gia Hà Nội – Chuyên ngành Quản trị kinh doanh Số giờ làm hằng tuần: 44 giờ Loại hình & quy mô công ty: ...

Bài viết Trưởng phòng Dịch vụ sinh viên đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
1. Thông tin cơ bản
  • Tuổi: 32 tuổi
  • Giới tính: Nữ
  • Số năm kinh nghiệm ở ngành nghề này: 7 năm
  • Trình độ học vấn và chuyên ngành: Đại học Quốc gia Hà Nội – Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
  • Số giờ làm hằng tuần: 44 giờ
  • Loại hình & quy mô công ty: Một chương trình liên kết quốc tế có cơ sở (campus) tại 4 tỉnh thành lớn ở Việt Nam

2. Trách nhiệm chính của anh/chị ở công việc hiện tại là gì? Công việc này đem lại giá trị gì cho tổ chức, cho các bên liên quan?

Trách nhiệm chính đối với công việc hiện tại:

    • Thực hiện các công việc hỗ trợ sinh viên: hỗ trợ về học phí, giấy xác nhận sinh viên, các thủ tục liên quan tới chuyển tiếp, bảo hiểm y tế
    • Tổ chức các sự kiện sinh viên: tổ chức khai giảng, cuối kỳ, vinh danh, các buổi Ngày hội việc làm (Career fair), sự kiện CLB sinh viên
    • Thực hiện công tác hỗ trợ học vụ: hỗ trợ đăng ký môn, xử lý hồ sơ nhập học, hướng dẫn sinh viên xét miễn môn khi chuyển ngang
    • Hỗ trợ giải đáp, tư vấn cho phụ huynh

3. Anh/chị bắt đầu vào nghề như thế nào? Vì sao anh/chị chọn con đường này?

Đồng hành cùng nhà trường ngay từ những ngày đầu triển khai dự án tại Việt Nam, tôi bắt đầu với vai trò cán bộ tuyển sinh. Sau một thời gian làm việc, nhận thấy phong cách làm việc của tôi phù hợp hơn với việc hỗ trợ và đồng hành cùng sinh viên, Ban Giám hiệu đã điều chuyển tôi sang vị trí Dịch vụ sinh viên ngay trong năm đầu tiên trường đi vào hoạt động.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi làm công việc trong lĩnh vực dịch vụ sinh viên, vì vậy tôi nhanh chóng thích nghi và nắm bắt yêu cầu của vị trí. Nhờ phong cách làm việc cẩn trọng, tỉ mỉ và tinh thần trách nhiệm, tôi là một trong những nhân sự đầu tiên được giao nhiệm vụ xây dựng và phát triển bộ phận này. Thách thức lớn nhất khi đó là bộ phận còn rất mới, chưa có quy trình vận hành hay quy định cụ thể. Tôi chủ động nghiên cứu, học hỏi từ các cơ sở khác trong cùng hệ thống, đồng thời phối hợp với các phòng ban liên quan để từng bước xây dựng quy trình làm việc, hoàn thiện các quy chế.

Sau bảy năm gắn bó với nhà trường, cùng với những kinh nghiệm tích lũy và sự nỗ lực không ngừng trong công việc, tôi đã được tin tưởng giao đảm nhiệm vị trí Trưởng phòng Dịch vụ sinh viên.

4. Một ngày làm việc tiêu biểu của anh/chị như thế nào?

08:00 – 17:30

(nghỉ trưa 12:00-13:30)

Thực hiện lần lượt các công việc cần làm cho một ngày như:

  • Xử lý các vấn đề phát sinh còn tồn đọng từ cuối ngày hôm trước đến sáng hôm sau.
  • Kiểm tra email, phản hồi hoặc chuyển tiếp đến người phụ trách (PIC) để xử lý, tránh tồn đọng mail. Nếu thông tin nào cần kiểm tra lại tôi sẽ đánh dấu và xử lý sau
  • Hỗ trợ yêu cầu học sinh và phụ huynh qua nhiều kênh bao gồm hotline, cổng thông tin (portal) và hỗ trợ trực tiếp
  • Tham gia các cuộc họp nội bộ, họp với cấp quản lý và các phòng ban liên quan để phối hợp công việc, trao đổi thông tin và triển khai các nhiệm vụ chung
Ngoài giờ hành chính

Đối với những công việc phát sinh, các vấn đề cần tiếp tục xử lý hoặc các báo cáo cần hoàn thành trong thời gian gấp, tôi chủ động làm việc ngoài giờ khi cần thiết để đảm bảo công việc được hoàn tất đúng thời hạn.

5. Anh/chị thích nhất những điều gì ở công việc của mình? Vì sao?

Điều tôi yêu thích nhất ở công việc hiện tại là được chủ động trong phạm vi trách nhiệm của mình và có cơ hội vận hành, cải tiến những quy trình mà tôi đã cùng xây dựng từ những ngày đầu. Vì bộ phận Dịch vụ sinh viên đóng vai trò là một mắt xích quan trọng trong hoạt động chung của nhà trường, công việc của tôi có sự kết nối và phối hợp thường xuyên với lãnh đạo cũng như nhiều phòng ban khác.

Bên cạnh đó, vị trí hiện tại mang lại sự ổn định và phù hợp với định hướng phát triển nghề nghiệp của tôi. Công việc giúp tôi tiếp tục phát huy kinh nghiệm, nâng cao chuyên môn và có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của nhà trường.

6. Anh/chị không thích nhất những điều gì? Vì sao?

Điều tôi chưa thích nhất ở công việc hiện tại là công việc yêu cầu sử dụng nhiều kỹ năng xã hội và thường xuyên làm việc với nhiều người. Với tính cách cá nhân, việc duy trì các hoạt động giao tiếp thường xuyên đôi khi khiến tôi cảm thấy tiêu hao nhiều năng lượng.

7. Những điều kiện cần có để hoàn thành tốt công việc này (kiến thức, kỹ năng, thái độ, v.v…)? Nếu em muốn thăng tiến trong công việc thì em nên trau dồi những gì ạ?

Công việc này cần sử dụng rất nhiều kỹ năng xã hội như:

  • Kỹ năng giao tiếp vì phải làm việc chính với con người như sinh viên, phụ huynh, đồng nghiệp trong phòng và các phòng ban khác
  • Làm việc nhóm từ nhóm nhỏ là trong phòng ban và các nhóm lớn hơn khi tôi là người chịu trách nhiệm chính trong các quyết định nhập học của sinh viên
  • Kỹ năng điều phối công việc cho các nhân sự khác trong team, quản lý thời gian, tiến độ 
  • Xử lý các thủ tục hành chính, giấy tờ, thanh toán

Nếu muốn phát triển thêm hay thăng tiến trong công việc này, điều cần làm là:

  • Phát triển kênh kết nối với doanh nghiệp để hợp tác thêm cho Ban dịch vụ sinh viên, nhắm đến mục tiêu phát triển nghề nghiệp cho sinh viên

8. Những điều mà mọi người hay hiểu lầm về công việc này là gì? Tại sao họ lại hiểu sai như vậy?

Mọi người sẽ nghĩ phòng dịch vụ sinh viên sẽ chỉ hỗ trợ các vấn đề giải đáp thắc mắc của sinh viên. Nhưng vị trí này còn cần làm nhiều các công việc giấy tờ, quản lý hồ sơ, quy trình, nên cần các bạn có tính cẩn thận và tỉ mỉ.

9. Công việc này có giúp em tự nuôi mình khi mới ra trường không?

Công việc này tạo nguồn tài chính ổn định cho tôi, vì thuộc khối văn phòng nên sẽ có thưởng cuối năm không dựa vào kết quả tuyển sinh.

10. Nhìn lại con đường phát triển sự nghiệp cũng như quá trình tìm việc của mình, anh/chị có lời khuyên nào cho em nếu em muốn theo nghề này?

Công việc này không yêu cầu một chuyên môn quá sâu ở một lĩnh vực cụ thể, nhưng đòi hỏi người làm phải có sự cẩn thận, khả năng làm việc theo quy trình, đặc biệt là kỹ năng làm việc với con người và tư duy dịch vụ.

Tuy nhiên, để phát triển lên các vị trí cao hơn như giám đốc, các vị trí điều hành trong trường hoặc chuyển sang các bộ phận chuyên môn khác như đào tạo, kết nối doanh nghiệp, sẽ có những giới hạn nhất định vì các vị trí này thường yêu cầu kiến thức và kinh nghiệm chuyên sâu trong từng lĩnh vực riêng.

Bên cạnh đó, nếu không có sự kiên nhẫn trong quá trình làm việc với sinh viên và phụ huynh, sẽ rất khó để có thể thực hiện tốt vai trò của vị trí này.

Bài viết Trưởng phòng Dịch vụ sinh viên đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Nhà thiết kế trải nghiệm người dùng (UX Designer) https://huongnghiepsongan.com/ntvt-nha-thiet-ke-trai-nghiem-nguoi-dung-ux-designer/ Wed, 29 Jul 2026 16:41:15 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=33099 1. Thông tin cơ bản Tuổi: 24 Giới tính: Nữ Số năm kinh nghiệm ở ngành nghề này: 2 năm Trình độ học vấn và chuyên ngành: Đại học, chuyên ngành Marketing Số giờ làm hằng tuần: 44 giờ Loại hình & quy mô công ty: Công ty công nghệ đa quốc gia, bộ phận ...

Bài viết Nhà thiết kế trải nghiệm người dùng (UX Designer) đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
1. Thông tin cơ bản
  • Tuổi: 24
  • Giới tính: Nữ
  • Số năm kinh nghiệm ở ngành nghề này: 2 năm
  • Trình độ học vấn và chuyên ngành: Đại học, chuyên ngành Marketing
  • Số giờ làm hằng tuần: 44 giờ
  • Loại hình & quy mô công ty: Công ty công nghệ đa quốc gia, bộ phận Du lịch, quy mô > 1000 người

2. Trách nhiệm chính của anh/chị ở công việc hiện tại là gì? Công việc này đem lại giá trị gì cho tổ chức, cho các bên liên quan?

Tôi đang làm UX Designer (nhà thiết kế trải nghiệm người dùng) tại một công ty công nghệ du lịch. Vai trò chính của tôi là hiểu nhu cầu thực sự của người dùng và chuyển hóa những nhu cầu đó thành trải nghiệm trên ứng dụng theo hướng dễ hiểu, dễ sử dụng và phù hợp với người dùng.

Cụ thể, tôi phụ trách:

  • Nghiên cứu người dùng – phỏng vấn, khảo sát, hoặc quan sát cách họ đặt phòng, tìm tour… để hiểu thói quen và khó khăn của họ
  • Phân tích đối thủ và thị trường – xem các ứng dụng khác làm gì tốt, từ đó rút ra bài học
  • Thiết kế cách người dùng tương tác với ứng dụng (user flow) và thiết kế bản mẫu giao diện (prototype) từ đơn giản (wireframe) đến chi tiết (hi-fi prototype)
  • Đề xuất cải tiến UX/UI (*) – tôi thuyết trình ý tưởng trước các anh chị quản lý và team kỹ thuật. Một vài đề xuất của tôi đã được áp dụng vào bản cập nhật chính thức

Công việc này giúp người dùng có trải nghiệm đặt chuyến du lịch mượt mà hơn.

Đối với tổ chức, UX Designer giúp giữ chân khách hàng, tăng tỷ lệ đặt vé, và xây dựng hình ảnh thương hiệu thân thiện.

(*)UX (User Experience – Trải nghiệm người dùng)/ UI (User Interface – Giao diện người dùng)

3. Anh/chị bắt đầu vào nghề như thế nào? Vì sao anh/chị chọn con đường này?

Tôi xuất thân từ ngành Marketing và rẽ hướng sang UX Designer sau khi tham gia một vài hackathon và cuộc thi phát triển sản phẩm. Khi mới bắt đầu, tôi tự học qua các khóa online về UX/UI trên Coursera và Google UX Design Certificate, rồi tham gia các dự án nhỏ để lấy kinh nghiệm.

Ban đầu, tôi làm Product Management (quản lý sản phẩm), rồi chuyển dần sang UX/UI Designer (thiết kế trải nghiệm và giao diện) sau khi nhận ra tôi thích “đào sâu” vào trải nghiệm người dùng hơn là quản lý tính năng.

Nếu được chọn lại, tôi vẫn sẽ chọn nghề này, vì nó kết hợp được tư duy logic, sáng tạo, và sự thấu cảm – ba yếu tố khiến tôi cảm thấy sống thật với bản thân.

4. Một ngày làm việc tiêu biểu của anh/chị như thế nào?

08:30 Tôi bắt đầu ngày làm việc bằng việc kiểm tra các nhiệm vụ trên Notion và xem lại phản hồi từ các thành viên trong nhóm thiết kế
09:00 Họp với team quản lý sản phẩm (Product) để nắm tiến độ dự án, phân chia công việc và xác định người phụ trách từng giai đoạn như nghiên cứu, thiết kế và kiểm thử.
10:00 – 12:00 Thời gian tập trung làm việc dành cho việc thiết kế bản phác thảo giao diện (wireframe), xây dựng bản mẫu thiết kế (prototype) và điều chỉnh các bước trải nghiệm của người dùng trên sản phẩm
13:00 – 15:00 Thực hiện phỏng vấn và quan sát người dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm để tìm ra những điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn hoặc cần được cải thiện.
15:00 – 17:00 Tổng hợp các nhận định về người dùng, xây dựng báo cáo ngắn và trao đổi với đội ngũ phát triển về các đề xuất cải tiến, đảm bảo sản phẩm được triển khai đúng theo thiết kế.
Ghi chú Tôi làm việc 5 ngày mỗi tuần, thời gian khá linh hoạt nhưng các deadline và lịch họp nhóm thường cố định. Khi chuẩn bị ra mắt tính năng mới, khối lượng công việc tăng lên do cần kiểm tra và điều chỉnh nhanh, nên đôi khi tôi sẽ làm thêm vào buổi tối.

5. Anh/chị thích nhất những điều gì ở công việc của mình? Vì sao?

  • Cảm giác khi nhìn thấy người dùng thật sự hài lòng với sản phẩm
  • Được kết hợp giữa nghiên cứu và sáng tạo, giữa con người và công nghệ
  • Làm việc nhóm đa phòng ban (product, tech, marketing), nên học được rất nhiều góc nhìn

6. Anh/chị không thích nhất những điều gì? Vì sao?

  • Khi phải “cân” giữa ý kiến nhiều bên: đôi lúc người dùng muốn một kiểu, team kỹ thuật lại muốn kiểu khác
  • Nhiều việc tỉ mỉ, cần kiên nhẫn (chỉnh pixel, test lỗi…)

7. Những điều kiện cần có để hoàn thành tốt công việc này (kiến thức, kỹ năng, thái độ, v.v…)? Nếu em muốn thăng tiến trong công việc thì em nên trau dồi những gì ạ?

Nếu em muốn theo nghề này, nên bắt đầu trau dồi ba nhóm sau:

  • Kiến thức:
    • Hiểu cơ bản về Design Thinking, User Psychology, UI/UX Principles.
    • Biết sử dụng các công cụ như Figma, Notion, Maze, FigJam.
  • Kỹ năng:
    • Kỹ năng nghiên cứu người dùng (phỏng vấn, khảo sát, phân tích insight)
    • Giao tiếp và thuyết trình, vì em sẽ phải giải thích lý do thiết kế của mình
    • Phân tích dữ liệu (heatmap, click rate, v.v.) để ra quyết định dựa trên bằng chứng
  • Thái độ:
    • Tò mò, chịu lắng nghe, kiên nhẫn thử nghiệm
    • Không sợ sai, vì UX là quá trình thử – sai – chỉnh liên tục
  • Nguồn học gợi ý:
    • The Design of Everyday Things (Don Norman): sách gốc cho tư duy UX.
    • Trang NNGroup, UX Collective, UX Planet trên Medium.
    • Các khóa UX trên Coursera, Interaction Design Foundation.

8. Những điều mà mọi người hay hiểu lầm về công việc này là gì? Tại sao họ lại hiểu sai như vậy?

Rất nhiều người nghĩ UX Designer chỉ vẽ đẹp hoặc làm giao diện.

Thực ra, “UI” chỉ là phần nhìn, còn “UX” là cả hành trình trải nghiệm của người dùng – từ khi họ mở app, chọn chức năng, đến lúc hoàn tất hành động.

Một UX Designer giỏi phải hiểu vì sao người dùng làm vậy, không chỉ “làm nó trông đẹp”.

9. Công việc này có giúp em tự nuôi mình khi mới ra trường không?

Câu trả lời là có – và còn khá tốt nữa nếu em chịu học nghiêm túc. Ngay cả ở vị trí mới bắt đầu (entry-level), UX Designer có thể kiếm đủ để sống thoải mái và tiết kiệm một chút, vì đây là ngành đang được săn đón.

10. Nhìn lại con đường phát triển sự nghiệp cũng như quá trình tìm việc của mình, anh/chị có lời khuyên nào cho em nếu em muốn theo nghề này?

  • Đừng đợi “giỏi rồi mới bắt đầu”. Cứ học và làm thử. Làm xong sai cũng là bài học.
  • Tham gia các dự án nhỏ, hackathon hoặc làm volunteer UX, vì trải nghiệm thực tế quan trọng hơn bằng cấp.
  • Theo dõi LinkedIn của các UX Designer hoặc trang UX in Vietnam để hiểu nghề.
  • Và quan trọng nhất: hãy tò mò về con người. Mọi công cụ hay kỹ thuật chỉ là cách giúp ta hiểu người dùng tốt hơn thôi.

Nếu em muốn bắt đầu ngay, tôi khuyên đọc “Don’t Make Me Think” – cuốn sách dễ hiểu nhất về UX mà tôi từng đọc.

Bài viết Nhà thiết kế trải nghiệm người dùng (UX Designer) đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Khi trực giác lên tiếng: Chuyên viên hướng nghiệp có nên tin vào trực giác của thân chủ? https://huongnghiepsongan.com/khi-truc-giac-len-tieng-chuyen-vien-huong-nghiep-co-nen-tin-vao-truc-giac-cua-than-chu/ Fri, 24 Jul 2026 12:45:11 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=32907 Tác giả: Itamar Gati và Moshe Tatar Trường hợp của Claire Claire là một cử nhân ngành kinh tế 23 tuổi, vừa nhận được hai lời mời làm việc hấp dẫn: một vị trí cố vấn đầu tư và một vị trí chuyên viên phân tích tại một công ty công nghệ cao. Cô đã ...

Bài viết Khi trực giác lên tiếng: Chuyên viên hướng nghiệp có nên tin vào trực giác của thân chủ? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Tác giả: Itamar Gati và Moshe Tatar

Trường hợp của Claire

Claire là một cử nhân ngành kinh tế 23 tuổi, vừa nhận được hai lời mời làm việc hấp dẫn: một vị trí cố vấn đầu tư và một vị trí chuyên viên phân tích tại một công ty công nghệ cao. Cô đã tìm đến trung tâm hướng nghiệp của trường và chia sẻ với Karen, chuyên viên hướng nghiệp rằng cô đơn giản “cảm thấy phù hợp” với vị trí cố vấn đầu tư. Karen lúc này đang đối mặt với một tình huống quen thuộc trong tham vấn hướng nghiệp: Cô nên tin tưởng bao nhiêu phần trăm vào trực giác của thân chủ khi đưa ra quyết định?

Trực giác, thường được gọi là “cảm giác mách bảo”, là một dạng nhận biết mà không cần đến suy luận có ý thức (Epstein, 2010; Kahneman, 2002). Trực giác dựa trên những tri thức được tích lũy một cách tự động, thường nằm ngoài nhận thức có ý thức, và có thể xuất hiện dưới dạng ấn tượng nhanh chóng, từ đó ảnh hưởng đến các phán đoán và quyết định của con người (Betsch, 2008). Dù trong những vấn đề thường nhật hay các lựa chọn quan trọng của cuộc đời, trực giác thường đóng vai trò định hướng quyết định của cá nhân, đôi khi một cách ngầm ẩn, đôi khi một cách rõ ràng.

Trực giác và một mô hình ra quyết định nghề nghiệp

Gati và Asher (2001) đã giới thiệu mô hình PIC – Prescreening (Sàng lọc ban đầu), In-Depth Exploration (Khám phá chuyên sâu), và Choice (Lựa chọn)  như một khung ra quyết định nghề nghiệp. Mô hình PIC cung cấp một cách tiếp cận có hệ thống nhằm thu thập, phân tích và tích hợp thông tin. Krieshok (1998) cho rằng phần lớn thông tin mà cá nhân xử lý khi cân nhắc các lựa chọn nghề nghiệp không đạt đến mức nhận thức có ý thức, từ đó tạo điều kiện để trực giác ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định. Theo đó, trực giác có thể đóng vai trò ở từng giai đoạn trong quy trình PIC.

Tập trung vào giai đoạn Lựa chọn (Choice), các nhà nghiên cứu gần đây đã phân tích mức độ tương thích giữa lựa chọn ưu tiên theo trực giác của thân chủ và kết quả từ quy trình ra quyết định có cấu trúc mang tên Compare & Choose (So sánh & Lựa chọn) (Gati và cộng sự, 2025). Trong nghiên cứu này, những cá nhân đang lựa chọn giữa một số phương án nghề nghiệp tiềm năng đã sử dụng một hệ thống hỗ trợ ra quyết định trực tuyến miễn phí, giúp họ đánh giá mức độ phù hợp của từng lựa chọn dựa trên những gì họ mong muốn, coi trọng và cảm thấy bản thân có khả năng thực hiện. Công cụ Compare & Choose (C&C) sẽ chấm điểm từng lựa chọn để xem lựa chọn nào hợp với bạn nhất.

Các nhà nghiên cứu muốn biết liệu cảm nhận trực giác của thân chủ có trùng khớp với điểm số phù hợp tổng thể của từng lựa chọn nghề nghiệp hay không. Để làm điều đó, họ so sánh danh sách các lựa chọn nghề nghiệp mà thân chủ cân nhắc với điểm số phù hợp của từng lựa chọn. Trong quá trình so sánh này, họ sử dụng ba cách mà trực giác thường thể hiện trong thực tế:

  1. Trực giác ngầm: phương án mà thân chủ vô tình liệt kê đầu tiên.
  2. Trực giác rõ ràng: phương án mà thân chủ cho là phù hợp nhất dựa trên cảm nhận khi được hỏi trực tiếp.
  3. Mức độ tự đánh giá về việc tin tưởng vào trực giác: thân chủ có tự đánh giá rằng họ thường tin vào “cảm giác mách bảo” của mình khi đưa ra quyết định nghề nghiệp hay không.

Những phát hiện chính và hàm ý

Thay vì xem trực giác là đúng hay sai, các nhà nghiên cứu tập trung vào việc xem trực giác trùng khớp với kết quả từ quá trình so sánh có cấu trúc đến mức nào. 

Mức độ tương thích giữa trực giác ngầm, trực giác rõ ràng và kết quả từ công cụ C&C trong các lựa chọn cuối cùng mang lại nhiều thông tin giá trị và có ý nghĩa thực tiễn. Cụ thể, đối với trực giác ngầm, đa số người tham gia (59%, cao hơn mức ngẫu nhiên) đã liệt kê đầu tiên chính phương án mà sau đó C&C xác định là phù hợp nhất. Điều này cho thấy rằng thứ tự liệt kê tự nhiên ban đầu cũng có thể chứa những thông tin đáng giá. Vì vậy, chuyên viên hướng nghiệp có thể khuyến khích thân chủ giải thích lý do tại sao họ lại đặt phương án đó lên đầu tiên.

Đối với trực giác rõ ràng, 74% người tham gia đã xác định được một phương án mà họ cảm thấy phù hợp nhất theo trực giác. Và đối với 60% trong số các trường hợp đó, lựa chọn này cũng là phương án được C&C đánh giá là phù hợp nhất. Điều này cho thấy rằng một câu hỏi trực tiếp như “Phương án nào khiến bạn cảm thấy đúng nhất?” có thể giúp người tham gia đưa ra câu trả lời nhanh chóng và thường khá hữu ích—dù không phải lúc nào cũng đúng với tất cả mọi người khi ra quyết định nghề nghiệp.

Cuối cùng, về mức độ tương thích giữa trực giác ngầm, trực giác rõ ràng và kết quả từ C&C, có 44% người tham gia cho thấy sự tương thích hoàn toàn giữa cả hai dạng trực giác và kết quả của C&C, trong khi 29% khác chỉ tương thích với trực giác rõ ràng.

Khi trực giác ngầm và trực giác rõ ràng không trùng nhau, điểm số phù hợp từ C&C có thể được dùng như một cơ sở rõ ràng để hỗ trợ ra quyết định. Cấu trúc này cũng hữu ích trong trường hợp có sự khác biệt giữa trực giác của thân chủ và trực giác của chuyên viên hướng nghiệp .

Một số xu hướng đáng chú ý khác cũng được ghi nhận:

  • Trong nhiều trường hợp, phương án mà thân chủ liệt kê đầu tiên sau đó cũng là phương án được đánh giá phù hợp nhất theo quá trình so sánh có cấu trúc.
  • Khi được hỏi trực tiếp, đa số thân chủ có thể xác định một lựa chọn mà họ “cảm thấy đúng nhất”, và lựa chọn này thường trùng với kết quả từ Compare & Choose.
  • Các bài tự đánh giá của thân chủ (ví dụ: “Tôi có dùng trực giác khi ra quyết định nghề nghiệp”) cho thấy họ có xu hướng dựa vào trực giác, nhưng không phản ánh độ chính xác hay giá trị thực tế của trực giác đó.
  • Mức độ tự đánh giá về việc tin tưởng vào trực giác không liên quan đến việc lựa chọn theo trực giác có trùng với kết quả từ so sánh có cấu trúc hay không. 

Điều này có ý nghĩa gì đối với chuyên viên hướng nghiệp

Các lựa chọn dựa trên trực giác rõ ràng có chứa thông tin nhất định. Chúng có thể là điểm khởi đầu hữu ích và mở ra những cuộc trao đổi sâu sắc, ý nghĩa với thân chủ.

Tuy nhiên, trực giác cũng có thể gây sai lệch. Trong nghiên cứu của Gati và cộng sự (2025), có 40% người tham gia chọn phương án đầu tiên hoặc phương án họ cảm thấy phù hợp nhất theo trực giác, nhưng phương án này lại khác với lựa chọn được đánh giá là tốt nhất theo Compare & Choose (C&C), dù tất cả thông tin đều do chính họ cung cấp. Khi trực giác và kết quả từ C&C trùng nhau, sự tự tin của thân chủ trong quyết định của mình có xu hướng tăng lên. Ngược lại, khi hai yếu tố này không khớp, sự khác biệt đó trở thành cơ hội để chuyên viên hướng nghiệp hỗ trợ thân chủ hiểu rõ nguyên nhân, và khi cần, khuyến khích họ điều chỉnh lại các thông tin đầu vào trong C&C sau khi đã khám phá kỹ hơn các lựa chọn.

Những kết quả này cho thấy chuyên viên hướng nghiệp nên cẩn trọng khi diễn giải cảm nhận trực giác của thân chủ, và cần kiểm chứng lại bằng các công cụ ra quyết định có cấu trúc như Compare & Choose.

Phản hồi với trực giác của Claire

Karen nên phản hồi với trực giác của Claire như thế nào? Với công cụ và cách tiếp cận đúng, các chuyên viên hướng nghiệp thường có khả năng đánh giá các lựa chọn dựa trên trực giác tốt hơn chính thân chủ. Trực giác, bao gồm cả trực giác ngầm (ví dụ: thứ tự liệt kê) và rõ ràng (ví dụ: “hãy chọn phương án bạn cảm thấy đúng nhất”) đều có giá trị  nhưng cần được kiểm chứng. Việc khuyến khích thân chủ diễn đạt rõ ràng cảm nhận trực giác của mình và so sánh chúng với kết quả từ các công cụ ra quyết định có cấu trúc như C&C có thể giúp họ hiểu rõ hơn về nhu cầu, mong muốn và khả năng của bản thân.

Khi kết quả từ các cách tiếp cận khác nhau có sự tương thích, sự nhất quán đó nên được ghi nhận và củng cố. Khi chúng không trùng khớp, sự khác biệt này không nên bị xem là dấu hiệu cảnh báo hay loại trừ, mà nên được coi là cơ hội để khám phá sâu hơn. Thông qua quá trình này, chuyên viên hướng nghiệp có thể tận dụng trải nghiệm và trực giác của thân chủ, đồng thời kiểm chứng những cảm nhận đó bằng hệ thống hỗ trợ ra quyết định nghề nghiệp. Công cụ Compare & Choose không nhằm thay thế trực giác; thay vào đó, nó nên được xem như một “lưới an toàn” đáng tin cậy, giúp làm rõ quyết định và giảm khả năng hối tiếc về sau.

Tham khảo

Betsch, T. (2008). The nature of intuition and its neglect in research on judgment and decision making. In H. Plessner, C. Betsch, & T. Betsch (Eds.), Intuition in judgment and decision making (pp. 3–22). Lawrence Erlbaum.

Epstein, S. (2010). Demystifying intuition: What it is, what it does, and how it does it. Psychological Inquiry, 21(4), 295–312. https://doi.org/10.1080/1047840X.2010.523875 

Gati, I., & Asher, I. (2001). The PIC model for career decision making: Prescreening, in-depth exploration, and choice. In F. T. Leong & A. Barak (Eds.), Contemporary models in vocational psychology (pp. 7–54). Erlbaum.

Gati, I., Izrailevitch, V., & Tatar, M. (2025). Clients’ intuitions in career decision making: Should career counselors trust them? Journal of Career Assessment, 33(3), 549–568. https://doi.org/10.1177/10690727241287532 

Kahneman, D. (2002). Maps of bounded rationality: A perspective on intuitive judgment and choice. Nobel Prize Lecture, 8, 351–401.

Krieshok, T. S. (1998). An anti-introspectivist view of career decision making. The Career Development Quarterly, 46(3), 210–229. https://doi.org/10.1002/j.2161-0045.1998.tb00697.x

Thông tin tác giả

Itamar Gati, PhD, là Giáo sư Samuel và Esther Melton (Danh dự) tại Đại học Hebrew Jerusalem, đồng thời là một học giả được quốc tế công nhận trong lĩnh vực ra quyết định nghề nghiệp suốt vòng đời. Công trình của ông tập trung vào việc phát triển các mô hình lý thuyết và công cụ thực tiễn nhằm giúp cá nhân đưa ra những quyết định nghề nghiệp và cuộc sống hiệu quả và có cơ sở hơn. Ông là người đứng đầu nhóm phát triển trang web www.cddq.org — một dịch vụ công miễn phí hỗ trợ ra quyết định nghề nghiệp. Trang web cung cấp nhiều công cụ đánh giá, bao gồm Bảng hỏi Khó khăn trong Ra quyết định Nghề nghiệp (được sử dụng tại 75 quốc gia) và các bảng hỏi về định hướng giáo dục bậc đại học và công việc. Tiến sĩ Gati từng là thành viên Ban Biên tập của Career Development Quarterly và tham gia Ủy ban Nghiên cứu của NCDA. Ông là Fellow của cả NCDA và APA, đồng thời là người nhận Giải thưởng Thành tựu Trọn đời của NCDA. Tại Israel, ông đã được trao Giải thưởng Landau về Nghiên cứu Giáo dục và Giải thưởng Đổi mới Kaye. Bạn có thể liên hệ với ông qua email: Itamar.gati@mail.huji.ac.il.

Moshe Tatar, PhD, là Giáo sư Anna Lazarus tại Trường Giáo dục thuộc Đại học Hebrew Jerusalem, và trước đây từng giữ chức Giám đốc Seymour Fox của Trường Giáo dục. Ông được bổ nhiệm làm Giáo sư Danh dự tại Khoa Tâm lý học của Đại học Công giáo Giáo hoàng Peru, đồng thời nhận Giải thưởng Michael Milken cho thành tích xuất sắc bền bỉ trong giảng dạy tại Đại học Hebrew. Trong thời gian học sau đại học, ông từng làm giáo viên trung học và chuyên viên tham vấn học đường. Tiến sĩ Tatar đã đảm nhiệm các vị trí học giả thỉnh giảng tại Đại học North Carolina tại Greensboro, Đại học Complutense Madrid, và Đại học Almería (Tây Ban Nha). Hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của ông tập trung vào tham vấn học đường và tâm lý học, giáo dục và tham vấn đa văn hóa — đặc biệt với người nhập cư và các nhóm thiểu số — cùng với hành vi và thái độ tìm kiếm sự hỗ trợ của thanh thiếu niên. Ông đã công bố nhiều công trình trên các tạp chí uy tín và trình bày nghiên cứu của mình tại hơn 120 hội thảo và hội nghị quốc tế. Bạn có thể liên hệ với ông qua email: moshe.tatar@mail.huji.ac.il.

Người dịch: Cẩm Thanh

Biên tập: Hồ Lan

Nguồn bài viết: Link

Photo by Vitaly Gariev on Unsplash

Bài viết Khi trực giác lên tiếng: Chuyên viên hướng nghiệp có nên tin vào trực giác của thân chủ? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Thách thức tuổi 30+: Hành trình tìm sự hòa hợp giữa nghề nghiệp và cuộc sống https://huongnghiepsongan.com/thach-thuc-tuoi-30-hanh-trinh-tim-su-hoa-hop-giua-nghe-nghiep-va-cuoc-song/ Thu, 23 Jul 2026 09:35:12 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=32807 Khủng hoảng năng lực và sự thay đổi nhanh của kỹ năng trong kỷ nguyên số Tự động hóa và AI đang định hình lại thị trường lao động toàn cầu. Theo LinkedIn (2025), đến năm 2030, ước tính 70% kỹ năng trong phần lớn nghề nghiệp sẽ thay đổi, chủ yếu do tác động ...

Bài viết Thách thức tuổi 30+: Hành trình tìm sự hòa hợp giữa nghề nghiệp và cuộc sống đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Khủng hoảng năng lực và sự thay đổi nhanh của kỹ năng trong kỷ nguyên số

Tự động hóa và AI đang định hình lại thị trường lao động toàn cầu. Theo LinkedIn (2025), đến năm 2030, ước tính 70% kỹ năng trong phần lớn nghề nghiệp sẽ thay đổi, chủ yếu do tác động của AI. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cũng dự đoán 59% lực lượng lao động toàn cầu sẽ cần được đào tạo lại để thích ứng với các nhu cầu mới của thị trường. Hơn một nửa người lao động được khảo sát thừa nhận rằng kỹ năng của họ hiện tại sẽ nhanh chóng lỗi thời (theo Global Labor Market Conference, 2025).

Người lao động trên 30 thường được kỳ vọng đã có nhiều kinh nghiệm, thu nhập từ khá đến cao, nhưng đồng thời phải liên tục chứng minh giá trị để cạnh tranh với lớp trẻ – được xem là linh hoạt và học hỏi nhanh hơn. Nhiều người vướng tâm lý “khủng hoảng tuổi 35” khi nhiều nhà tuyển dụng giới hạn độ tuổi ứng viên, và xã hội mong đợi họ đã nắm giữ các vị trí cao như quản lý hoặc chuyên gia. Điều này càng làm tăng tâm lý lo ngại: nếu không thể thăng tiến, họ có thể bị đào thải.

Theo Bản tin Thị trường Lao động quý I/2025 (Bộ Nội vụ), 43% người tìm việc tại Việt Nam thuộc nhóm 30–39 tuổi, xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau chứ không chỉ do thất nghiệp. Thiếu cơ hội thăng tiến, hạn chế cơ hội làm việc quốc tế, thiếu chương trình đào tạo và phát triển, chênh lệch kỳ vọng về lương thưởng, và thiếu linh hoạt về thời gian làm việc là 5 nguyên nhân chính khiến nhóm này có ý định chuyển việc (Michael Page, 2025).

Bên cạnh các yêu cầu công việc ngày càng cao, họ còn phải cân đối thêm những trọng trách ngoài đời sống như chăm sóc gia đình, quản lý tài chính, phát triển cá nhân, hay duy trì sức khỏe. Khi họ cùng lúc phải ưu tiên nhiều vai trò khác nhau, không ít người rơi vào trạng thái quá tải.

Góc nhìn người trong cuộc

Anh Hậu (40 tuổi, thầy giáo), chia sẻ rằng công nghệ có ảnh hưởng tới nghề nghiệp, cũng như cách tiếp cận trong công việc của mình. “Công nghệ thay đổi và cập nhật rất nhanh, khả năng thích ứng của mình chậm hơn các bạn trẻ, nên mình phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để bắt kịp”.

Anh kể, “Mình phải đi trước, để còn hướng dẫn cho các em học sinh. Tốc độ học sinh cập nhật AI cũng rất nhanh, tuy nhiên, lời giải của AI chưa chắc đã đúng. Hơn thế nữa, câu trả lời của AI đưa ra đã phù hợp với bài các em đã học, theo khả năng hiện tại của các em hay chưa, v.v nên mình càng phải học để định hướng cho các em một cách chính xác”.

Chia sẻ từ chị X (44 tuổi, biên tập viên), mới đầu khi biết về sự phát triển công nghệ, chị có lo lắng vì biết chắc chắn nó sẽ thay đổi sức lao động của mình. Nhưng không vì “sợ cái mình không biết”, chị cố gắng sử dụng AI trong công việc hàng ngày. Chị tập dùng từ những tác vụ nhỏ nhất, ví dụ như nhập thông tin để AI vẽ thử infographic (đồ họa thông tin) hay những câu lệnh eExcel.

Chị X cũng chia sẻ thêm, chị cảm thấy khó hiểu khi mọi người có định kiến với người lớn tuổi về tốc độ học hỏi và cách làm việc. Chị cho rằng “có sẵn định kiến là rào cản để phối hợp với nhau”. Và không chỉ nhà tuyển dụng hay người trẻ có định kiến với lao động lớn tuổi, mà chính người trong ngành, cùng giới, cùng lứa tuổi lại có suy nghĩ đó. Chính vì suy nghĩ “người lớn tuổi khó học, khó phát triển” tạo nên tâm lý ngại học và ngại sai ở người lao động lớn tuổi.

Có thể nói, đây là thời điểm để người lao động nhìn lại chính mình, về những ưu tiên trong cuộc sống và hành trình phát triển nghề nghiệp. Nhìn nhận đúng khả năng học hỏi của bản thân, cũng như chuẩn bị cho mình tâm thế sẵn sàng chuyển đổi để thích nghi với thị trường lao động liên tục biến động.

Giải pháp

Hiểu hành trình phát triển sự nghiệp của mỗi cá nhân là vòng xoắn ốc

Một ẩn dụ phù hợp cho hành trình phát triển sự nghiệp là vòng xoắn ốc. Thay vì di chuyển trên một đường thẳng, mỗi cá nhân trải qua nhiều giai đoạn lên – xuống, học hỏi, điều chỉnh và thích nghi giữa thị trường lao động luôn biến động. Đôi khi, sau một đỉnh sự nghiệp là đường đi xuống. Đây có thể là giai đoạn người đi làm tự chuyển hướng, hoặc do những thay đổi bất ngờ trong thị trường lao động. Điều này đòi hỏi sự linh hoạt và khả năng thích nghi với tình huống và cơ hội mới của mỗi cá nhân.

Chuyên gia Hướng nghiệp Phoenix Ho chia sẻ: “Theo kinh nghiệm lâm sàng và theo nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển nghề nghiệp, khi người lao động ở điểm trầm, họ cần phải hành động khôn ngoan để thoát khỏi tình trạng đó.” (Tham khảo: Phát triển vòng xoắn ốc trong nghề nghiệp)

Hiểu hành trình phát triển sự nghiệp của mỗi cá nhân là vòng xoắn ốc

Việc bắt đầu lại ở tuổi sau 30 không có nghĩa là trở về vạch xuất phát, mà là tiếp nối từ nền tảng và kinh nghiệm đã tích lũy. Một hướng tiếp cận khác là nhìn nhận lại chính mình qua bốn rễ cây nghề nghiệp: sở thích, năng lực, tính cách và giá trị nghề nghiệp theo Mô hình lý thuyết cây nghề nghiệp. (Tham khảo: Cây nghề nghiệp – Các câu hỏi gợi ý)

Theo mô hình Cầu vồng cuộc sống và nghề nghiệp, ở mỗi thời điểm, người lao động có thể đồng thời đảm nhận nhiều vai trò khác nhau. Bạn cần phải sáng suốt gọi tên giai đoạn cuộc đời bạn đang đi qua cùng vai trò bạn cần tập trung để phát triển. Khi đã xác định những điều này, bạn sẽ ít lung lay khi nhìn thấy những con đường phát triển khác mình cũng như tỉnh táo trước những định kiến áp đặt lên cuộc sống của bạn. (Tham khảo: 5 giai đoạn, 8 vai trò – Bạn đang ở đâu trong Cầu vồng Cuộc sống, Nghề nghiệp? Phát triển vòng xoắn ốc trong nghề nghiệp)

Tham khảo Kênh sức khỏe nghề nghiệp của Sông An

Thay vì loay hoay đi một mình, bạn có thể tìm thêm sự trợ giúp từ các công cụ trắc nghiệm, bài viết, podcast,… hoàn toàn miễn phí trên Kênh Sức khỏe nghề nghiệp của Sông An. Đây là nơi giúp bạn giải mã những khó khăn nghề nghiệp và xây dựng các thói quen cần thiết trên hành trình phát triển sự nghiệp của mình.

Dù hành trình có nhiều thách thức, mỗi cá nhân không hề đơn độc trên con đường phát triển nghề nghiệp của mình. Thay vì loay hoay đi một mình, bạn có thể tham gia chia sẻ và hỏi lời khuyên từ các chuyên viên hướng nghiệp trong cộng đồng Vững tâm đi làm. Đây là không gian an toàn, nơi bạn có thể lắng nghe, chia sẻ và tìm thấy sự đồng cảm từ những người cùng trải nghiệm, bất kể bạn đang ở độ tuổi hay giai đoạn nào trong cuộc sống.

Nguồn thông tin bài viết:

  1. LinkedIn Economic Graph. (2025, January). Work Change Report: AI is Coming to Work. LinkedIn.
  2. Michael Page. (2025). Talent Trends 2025 Report Vietnam. Michael Page Asia Pacific.
  3. Unleash. (n.d.). The majority of workers think their skills will become obsolete in the next five years, says GLMC.
  4. VnExpress. (2025, May). Gần 43% lao động đi tìm việc thuộc nhóm U40.
  5. World Economic Forum. (2025). The Future of Jobs Report 2025. World Economic Forum.

Bài viết Thách thức tuổi 30+: Hành trình tìm sự hòa hợp giữa nghề nghiệp và cuộc sống đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Lao động lớn tuổi (35-45) trước thách thức bị thay thế bởi công nghệ và tái cấu trúc xã hội: Cần chính sách chăm sóc và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp kịp thời https://huongnghiepsongan.com/lao-dong-lon-tuoi-35-45-truoc-thach-thuc-bi-thay-the-boi-cong-nghe-va-tai-cau-truc-xa-hoi/ Wed, 22 Jul 2026 09:54:40 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=31965 Lao động lớn tuổi trước áp lực công nghệ và xã hội Theo McKinsey, đến năm 2030, khoảng 14% lực lượng lao động toàn cầu (tương đương 375 triệu người) sẽ cần chuyển đổi nghề do tự động hóa. IMF báo động rằng gần 40% việc làm, đặc biệt lên tới 60% ở các nước ...

Bài viết Lao động lớn tuổi (35-45) trước thách thức bị thay thế bởi công nghệ và tái cấu trúc xã hội: Cần chính sách chăm sóc và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp kịp thời đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Lao động lớn tuổi trước áp lực công nghệ và xã hội

Theo McKinsey, đến năm 2030, khoảng 14% lực lượng lao động toàn cầu (tương đương 375 triệu người) sẽ cần chuyển đổi nghề do tự động hóa. IMF báo động rằng gần 40% việc làm, đặc biệt lên tới 60% ở các nước phát triển, có thể chịu ảnh hưởng bởi AI. OECD và Goldman Sachs cũng đưa ra dự báo về số lượng việc làm có thể bị thay thế bởi công cuộc tự động hóa, trong đó, nhóm lao động trong độ tuổi 35-45 chịu áp lực lớn nhất do rào cản kỹ năng số và khả năng thích ứng kém hơn nhóm trẻ.

Tại Việt Nam, năm 2023 gần 372 nghìn người lao động từ 35 tuổi trở lên thất nghiệp, chiếm trên 34% tổng số người thất nghiệp cả nước. Hơn 641 nghìn người trong cùng nhóm tuổi bị thiếu việc làm. Các ngành chịu ảnh hưởng nặng là nông nghiệp, sản xuất và bán buôn bán lẻ, với ước tính tổng số hơn 5 triệu việc làm có nguy cơ biến mất do công cuộc tự động hóa vào năm 2028.

  • Thất nghiệp: Không có việc làm, đang tìm và sẵn sàng làm việc.
  • Thiếu việc làm: Có việc nhưng không đủ giờ, thu nhập thấp hoặc chưa sử dụng hết năng lực.

Trong khi nhà nước đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu, nhiều lao động trên 35 tuổi lại bị xem là “già” trong tuyển dụng. Theo nhiều nhà tuyển dụng, ứng viên trên 35 tuổi thường hướng tới sự ổn định và yêu cầu mức lương cao dựa trên kinh nghiệm làm việc trước đó. Mặt khác, do doanh nghiệp cần giảm thiểu tối đa chi phí nhân lực, ưu tiên người trẻ do “không vướng bận”, cùng sức cống hiến dồi dào, khả năng học hỏi nhanh với mức lương phù hợp.

Đặc biệt, nhóm 35-45 tuổi hiện đang là trụ cột chính của gia đình với nhiều “gánh nặng” như chi tiêu sinh hoạt, nuôi dạy con cái, bất động sản, sức khỏe và vai trò làm cha mẹ, vợ chồng, con dâu/ con rể. Trong đó, nữ lao động lớn tuổi còn đối mặt với sức ép giới tính lớn hơn khi khả năng học tập và sức khỏe có những hạn chế nhất định, khiến họ dễ rơi vào trạng thái thất nghiệp dài hạn hoặc làm việc không ổn định.

Góc nhìn của người trong cuộc

Anh Hậu (40 tuổi, thầy giáo), chia sẻ rằng công nghệ có ảnh hưởng tới nghề nghiệp, cũng như cách tiếp cận trong công việc của mình. “Công nghệ thay đổi và cập nhật rất nhanh, khả năng thích ứng của mình chậm hơn các bạn trẻ, nên mình phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để bắt kịp”.

Anh kể, “Mình phải đi trước, để còn hướng dẫn cho các em học sinh. Tốc độ học sinh cập nhật AI cũng rất nhanh, tuy nhiên, lời giải của AI chưa chắc đã đúng. Hơn thế nữa, câu trả lời của AI đưa ra đã phù hợp với bài các em đã học, theo khả năng hiện tại của các em hay chưa, v.v nên mình càng phải học để định hướng cho các em một cách chính xác”.

Chia sẻ từ chị X (44 tuổi, biên tập viên), mới đầu khi biết về sự phát triển công nghệ, chị có lo lắng vì biết chắc chắn nó sẽ thay đổi sức lao động của mình. Nhưng không vì “sợ cái mình không biết”, chị cố gắng sử dụng AI trong công việc hàng ngày. Chị tập dùng từ những tác vụ nhỏ nhất, ví dụ như nhập thông tin để AI vẽ thử infographic (đồ họa thông tin) hay những câu lệnh eExcel.

Chị X cũng chia sẻ thêm, chị cảm thấy khó hiểu khi mọi người có định kiến với người lớn tuổi về tốc độ học hỏi và cách làm việc. Chị cho rằng “có sẵn định kiến là rào cản để phối hợp với nhau”. Và không chỉ nhà tuyển dụng hay người trẻ có định kiến với lao động lớn tuổi, mà chính người trong ngành, cùng giới, cùng lứa tuổi lại có suy nghĩ đó. Chính vì suy nghĩ “người lớn tuổi khó học, khó phát triển” tạo nên tâm lý ngại học và ngại sai ở người lao động lớn tuổi.

Có thể nói, đây là thời điểm để người lao động nhìn lại chính mình, về những ưu tiên trong cuộc sống và hành trình phát triển nghề nghiệp. Nhìn nhận đúng khả năng học hỏi của bản thân, cũng như chuẩn bị cho mình tâm thế sẵn sàng chuyển đổi để thích nghi với thị trường lao động liên tục biến động.

Giải pháp từ hệ thống

Việc xây dựng chính sách đặc thù cho nhóm lao động trung niên vẫn là một nhu cầu cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho họ trong chuyển đổi nghề nghiệp và duy trì việc làm bền vững, cụ thể như:

  • Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp có trọng điểm cho lao động lớn tuổi.
  • Đảm bảo quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp được tiếp cận rộng rãi, kịp thời.
  • Xây dựng cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp cam kết không phân biệt tuổi tác trong tuyển dụng và giữ chân lao động.
  • Tổ chức các mạng lưới hỗ trợ cộng đồng với sự phối hợp giữa cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.

Trong khi chúng ta đang chờ những chính sách xã hội mới và đồng bộ hơn để bảo vệ và hỗ trợ lao động trung niên, thì ngay lúc này mỗi người lao động có thể chủ động trang bị kỹ năng, tiếp cận các chương trình học tập và tận dụng các nguồn lực sẵn có để thích ứng nhanh với thị trường lao động.

Giải pháp tự thân

Can đảm tìm hiểu sâu, lập kế hoạch rõ ràng là chìa khoá để bạn vững vàng.” – Phoenix Ho, Chuyên gia Hướng nghiệp, khẳng định.

Điều quan trọng đầu tiên là hiểu rõ bản thân: sở thích, năng lực, tính cách và giá trị nghề nghiệp. Song song đó, cần tìm hiểu thêm về các nghề mình quan tâm và thiết lập hệ quy chiếu nghề mơ ước. Việc kết nối giữa Hiểu mình và Hiểu nghề giúp tạo cơ sở khoa học trong việc chọn lựa nghề nghiệp phù hợp, giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả chuyển đổi nghề.

Dù bạn đang ở độ tuổi nào, nếu chọn tái định hướng nghề nghiệp thì bạn có thể tham gia Khóa học tự hướng nghiệp 30 ngày miễn phí tại KHÓA HỌC MIỄN PHÍ 30 NGÀY TỰ HƯỚNG NGHIỆP

Chị Phoenix cũng chia sẻ, mỗi người lao động chỉ cần chủ động “nhích một milimet” trên hành trình nghề nghiệp, cũng là đang tiến lên rồi. Đó có thể là hành động “thử sử dụng AI xem sao”, hay mỗi ngày đọc thêm, học thêm và tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên nghiệp.

Theo chuyên viên tư vấn hướng nghiệp Mai Đặng, “mỗi quyết định về nghề nghiệp đều cần sự cân nhắc kỹ lưỡng về nhiều khía cạnh: vai trò cá nhân, tài chính và thời gian”. Mặc dù bài viết tập trung vào nhóm lao động 35-45 tuổi, song thực tế giải pháp không giới hạn chỉ trong độ tuổi này; người lao động ngoài độ tuổi đó cũng có thể áp dụng, vì chuyển đổi nghề nghiệp là quá trình liên tục và cần sự chủ động ở mọi giai đoạn của cuộc đời. Chị Mai nhấn mạnh, chúng ta luôn cần “tranh thủ” học – theo định hướng cá nhân để từ từ chuyển mình. Và đặc biệt phải luôn cho phép bản thân được thử nghiệm – không đòi hỏi kết quả rõ rệt ngay lập tức, mà với tâm thế tò mò, khiêm tốn.

Cuối cùng, bạn không đơn độc trên hành trình tìm kiếm và phát triển sự nghiệp cho mình. Dù ở bất kỳ giai đoạn nào – đang loay hoay định hướng, đối diện khó khăn trong công việc, hay muốn mở ra một bước chuyển mới – bạn đều có thể tìm những điểm tựa tin cậy. Đó có thể là chuyên gia hướng nghiệp, là hệ thống hỗ trợ chuyên nghiệp, và đặc biệt là một cộng đồng sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ và đồng hành cùng bạn.

CỘNG ĐỒNG VỮNG TÂM ĐI LÀM chính là một trong những không gian như thế: nơi bạn có thể kết nối với những người có cùng mối quan tâm, học hỏi từ trải nghiệm thực tế, trò chuyện trực tiếp với các chuyên gia, và quan trọng hơn cả là luôn cảm thấy mình được thấu hiểu và nâng đỡ trên con đường sự nghiệp.

Nguồn thông tin bài viết:

  1. McKinsey Global Institute. (2017, December 6). Jobs lost, jobs gained: Workforce transitions in a time of automation [Executive summary]. McKinsey & Company.
  2. International Monetary Fund. (2024, January 14). AI will transform the global economy—Let’s make sure it benefits humanity. IMF Blog.
  3. World Bank. (n.d.). Employment Service Centers in Vietnam: Summary review [Report].
  4. VnEconomy. (n.d.). Lao động trung niên có kinh nghiệm cũng gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm.
  5. Nhân Dân. (n.d.). Khoảng trống lao động sau tuổi 35 [Loạt bài].
  6. Thanh Niên. (n.d.). Lao động trên 35 tuổi tìm việc: Khi bị xem là… già và định kiến vô hình.
  7. Lao Động. (n.d.). Lao động ngoài 35 tuổi cần chủ động ứng phó với rủi ro mất việc.

Bài viết Lao động lớn tuổi (35-45) trước thách thức bị thay thế bởi công nghệ và tái cấu trúc xã hội: Cần chính sách chăm sóc và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp kịp thời đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Hướng dẫn sử dụng AI Xanh: Những lựa chọn bền vững dành cho chuyên viên khai vấn và tư vấn nghề nghiệp https://huongnghiepsongan.com/huong-dan-su-dung-ai-xanh-nhung-lua-chon-ben-vung-danh-cho-chuyen-vien-khai-van-va-tu-van-nghe-nghiep/ Sun, 12 Jul 2026 09:27:58 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=32317 Tác giả: Angie Thompson  Phần lớn người Mỹ hằng ngày đều tương tác với các tính năng trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng kỹ thuật số như TikTok, Netflix và YouTube mà không nhận ra rằng những công cụ này có thể tạo ra những tác động đáng kể đến môi trường. ...

Bài viết Hướng dẫn sử dụng AI Xanh: Những lựa chọn bền vững dành cho chuyên viên khai vấn và tư vấn nghề nghiệp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Tác giả: Angie Thompson 

Phần lớn người Mỹ hằng ngày đều tương tác với các tính năng trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng kỹ thuật số như TikTok, Netflix và YouTube mà không nhận ra rằng những công cụ này có thể tạo ra những tác động đáng kể đến môi trường. Tại các bang có ý thức cao về môi trường ở Hoa Kỳ, chẳng hạn như Missoula, Montana, các cuộc thảo luận về trí tuệ nhân tạo thường bắt đầu từ mối quan tâm. Trong công việc của tôi tại Đại học Montana (UM), sinh viên thường chia sẻ rằng họ chọn Missoula vì họ yêu thiên nhiên ngoài trời và mong muốn có một khoảng nghỉ khỏi việc sử dụng công nghệ liên tục. Vì vậy, khi các công cụ AI bắt đầu được đưa vào dịch vụ hướng nghiệp tại UM, một câu hỏi phổ biến liên tục được đặt ra là: “AI tác động đến môi trường như thế nào?

Điều này phù hợp với các xu hướng trên toàn quốc. Như đã được đề cập trong tạp chí dành cho hội viên của NCDA, Career Developments (Thompson & Hines, 2025), những người trẻ trưởng thành ở các khu vực nông thôn và các cộng đồng lấy môi trường làm trọng tâm có tỷ lệ tự nguyện sử dụng AI thuộc nhóm thấp nhất cả nước. Sự dè dặt của họ thường không bắt nguồn từ nỗi sợ công nghệ, mà từ những giá trị và mối quan tâm liên quan đến môi trường. Vì vậy, AI Xanh trở thành một chủ đề rất quan trọng. 

Tuy nhiên, các cuộc thảo luận về AI dưới góc nhìn ý thức môi trường vẫn còn khá hiếm tại Hoa Kỳ, và nhiều người sử dụng cả AI lẫn các công cụ kỹ thuật số khác mà không nhận ra những tác động môi trường đi kèm. Điều này khiến sinh viên của UM trở thành một ngoại lệ hơn là đại diện cho xu hướng chung. Các chuyên viên hướng nghiệp có thể thực hiện những bước đi thiết thực để nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về cách các công cụ kỹ thuật số sử dụng năng lượng và tài nguyên. Những hoạt động giáo dục như vậy có thể giúp mọi người đưa ra những quyết định sáng suốt hơn khi tương tác với các nền tảng này, đặc biệt là cho các mục đích hướng nghiệp và tìm kiếm việc làm.

Chi Phí Môi Trường

Việc hiểu bức tranh toàn cảnh của môi trường kỹ thuật số giúp nâng cao nhận thức và hỗ trợ việc đưa ra quyết định tốt hơn khi sử dụng hoặc giảng dạy về AI. Ví dụ, dấu chân carbon hằng năm của TikTok được ước tính vào khoảng 50 triệu tấn CO₂e, gần tương đương với lượng phát thải hằng năm của Hy Lạp (TikTok Sustainability Estimate, 2025). Thời gian sử dụng kéo dài cùng với việc liên tục làm mới video là những yếu tố tạo nên tác động này. Ngay cả một phút lướt xem cũng tạo ra khoảng 2,9 gam CO₂e — một con số nhỏ, nhưng sẽ trở nên đáng kể khi được nhân lên trên hàng tỷ người dùng.

Việc xem video trực tuyến cũng có những tác động tương tự. Theo Carbon Trust (2025), xem video trên một chiếc tivi màn hình lớn tạo ra lượng phát thải carbon cao gấp 100 lần so với xem trên điện thoại thông minh. Một giờ xem video chất lượng cao sử dụng khoảng 77 watt-giờ điện năng, tương đương với việc chạy một chiếc laptop trong một đến hai giờ, hoặc giữ một bóng đèn LED sáng trong phần lớn buổi tối.

Các công cụ AI như ChatGPT, Gemini và Claude cũng có chi phí môi trường, nhưng thường thấp hơn so với những gì nhiều người có thể hình dung. Báo cáo hiệu suất môi trường năm 2025 của Google cho thấy một truy vấn văn bản đơn lẻ trên Gemini sử dụng khoảng 0,24 watt-giờ điện và 0,26 mililit nước — tương đương với lượng năng lượng cần thiết để thắp sáng một bóng đèn LED chỉ trong vài giây, và lượng nước xấp xỉ thể tích của một giọt nước (Google Sustainability, 2025). Phần lớn tác động môi trường đến từ quá trình huấn luyện mô hình, chứ không phải từ việc sử dụng hằng ngày. Sự phân biệt này thường giúp giảm bớt nỗi lo sợ và thúc đẩy việc tiếp cận AI một cách hiểu biết hơn.

Khung Năng Lực Hiểu Biết Về AI

Để giúp các cá nhân định hướng trong thực trạng này, các chuyên viên hướng nghiệp sẽ được hỗ trợ rất nhiều khi có những khung hướng dẫn rõ ràng. Tại Đại học Montana, các chuyên viên khai vấn nghề nghiệp thuộc Trung tâm Học tập Trải nghiệm và Thành công Nghề nghiệp sử dụng Khung PAUSE — một mô hình do UM phát triển, được điều chỉnh từ các khung đạo đức và phát triển bền vững về AI đã có trước đó — nhằm tích hợp trực tiếp yếu tố bền vững vào năng lực hiểu biết về AI.

Purpose – Mục đích: Vì sao AI được sử dụng? AI hỗ trợ mục tiêu của thân chủ như thế nào?

Accessibility & Agency – Khả năng tiếp cận và quyền tự quyết: Công cụ này có trao quyền cho thân chủ và đáp ứng các nhu cầu tiếp cận của họ không?

Underpinning Evidence – Cơ sở bằng chứng: Thông tin có thể được xác minh bằng 2–3 nguồn đáng tin cậy hay không?

Sustainability – Tính bền vững: Đây có phải là lựa chọn có tác động thấp nhất không? Nhiệm vụ này có thể được thực hiện hiệu quả hơn không?

Ethics – Đạo đức: Các yếu tố về quyền riêng tư, việc ghi nhận nguồn và sử dụng có trách nhiệm đã được cân nhắc chưa?

Mặc dù PAUSE đề cập đến những khía cạnh cốt lõi của việc sử dụng AI có trách nhiệm, Tính bền vững thường là khía cạnh mà sinh viên đặt ra nhiều câu hỏi nhất. Các chuyên viên hướng nghiệp có thể hỗ trợ sinh viên và thân chủ bằng cách đưa ra những chiến lược cụ thể, dễ tiếp cận, giúp giảm tác động môi trường mà không làm giảm tính hữu ích của AI.

Một kỹ thuật hiệu quả là gộp câu lệnh (batch prompting), tức là gộp nhiều câu hỏi vào một câu lệnh có cấu trúc rõ ràng. Nghiên cứu cho thấy kỹ thuật này có thể giảm mức sử dụng năng lượng lên đến 40% (Toro-Troconis, 2025), đồng thời cải thiện chất lượng đầu ra.

Cách Thực Hiện Gộp Câu Lệnh

  1. Ghi lại các câu hỏi có liên quan trong suốt cả ngày.
  2. Sắp xếp chúng thành từng nhóm/chủ đề.
  3. Bổ sung bối cảnh và các chi tiết liên quan.
  4. Nêu rõ giọng văn, định dạng và cấu trúc mong muốn.
  5. Nhập tất cả nội dung vào cùng một câu lệnh.
  6. Quay lại câu lệnh đó sau và bổ sung thêm các câu hỏi, để AI vẫn giữ được bối cảnh.

Ví dụ 

Tôi đang ứng tuyển vào một vị trí trong cơ quan chính phủ liên bang. Dưới đây là kinh nghiệm của tôi: [chèn kinh nghiệm]. Vui lòng:

  1. Tạo 8–10 gạch đầu dòng có thể đo lường được.
  2. Tóm tắt kinh nghiệm của tôi trong bốn câu.
  3. Liệt kê các KSA đã được thể hiện.
  4. Chia sẻ ba lời khuyên cho các bài đánh giá mới trên USAJobs.
  5. Đưa ra hướng dẫn chung về cách trả lời các câu hỏi tự luận mới.
  6. Soạn một mẫu email để liên hệ với quản lý tuyển dụng.

Cấu trúc này hỗ trợ tính bền vững, tiêu tốn ít năng lượng hơn và cung cấp cho người tìm việc những kết quả chất lượng cao hơn.

Việc lựa chọn đúng mô hình cũng rất quan trọng. Ở đây, “mô hình” là đề cập đến hệ thống AI cốt lõi, chứ không phải nền tảng sử dụng.. Các mô hình nhẹ như Gemini Flash, ChatGPT-5 Instant hoặc Claude Haiku thường đã đủ cho các nhiệm vụ như viết lại, tóm tắt hoặc làm rõ mô tả công việc. Các mô hình lớn hơn, tiêu tốn nhiều năng lượng hơn như ChatGPT-5.1 Thinking hoặc Gemini Thinking với 3 Pro nên được dành cho các nhiệm vụ phức tạp. Các chuyên viên hướng nghiệp có thể làm mẫu cho việc lựa chọn này trong các buổi tư vấn, thuyết trình, hội thảo và các phiên đào tạo.

Những thực hành bền vững khác bao gồm tái sử dụng và sắp xếp các cuộc trò chuyện, tránh tạo hình ảnh không cần thiết, và lựa chọn các nền tảng công bố minh bạch thông tin về tác động môi trường.  Sinh viên và thân chủ không chỉ được hưởng lợi từ những chiến lược thực tiễn này, mà còn từ việc được chứng kiến các thói quen kỹ thuật số có chủ đích do chính chuyên viên hướng nghiệp làm mẫu.

Tham Gia Một Cách Có Đạo Đức

Điều quan trọng không kém là sự tham gia chủ động của các chuyên viên hướng nghiệp. Việc luôn cập nhật thông tin giúp các chuyên viên có thể góp phần định hình các cuộc thảo luận về chính sách, tính minh bạch và các tiêu chuẩn môi trường trong chính tổ chức và cộng đồng của mình. 

Nhiều trường đại học hiện đang xây dựng những chính sách hỗ trợ việc sử dụng AI một cách hiệu quả và có trách nhiệm. Tại Đại học Montana, các cuộc đối thoại cởi mở trên toàn trường được khuyến khích thông qua các hội nghị chuyên đề về AI, các hướng dẫn sử dụng nền tảng được cập nhật và hoạt động truyền thông minh bạch. Cam kết công khai của trường đối với việc phát triển và triển khai AI một cách bền vững (University of Montana, 2025) góp phần xây dựng niềm tin, đồng thời mời gọi sinh viên, giảng viên và nhân viên cùng tham gia vào việc định hình các thực hành AI có trách nhiệm.

Cuối cùng, các chuyên viên hướng nghiệp muốn duy trì sự cập nhật có thể:

  • Theo dõi các cập nhật từ những nhà cung cấp AI minh bạch.
  • Tham dự các phiên chuyên đề của NCDA về AI và tham gia Ủy ban Công nghệ của NCDA.
  • Tham gia các ủy ban trong tổ chức, nơi đang xây dựng các hướng dẫn sử dụng AI.
  • Nắm rõ các chính sách, chương trình đào tạo và nguồn lực về AI của tổ chức mình.

AI và Vai Trò Quản Trị Môi Trường

AI Xanh không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật, nhưng đòi hỏi những thói quen có chủ đích và các chiến lược dễ tiếp cận. Bằng cách tích hợp yếu tố bền vững, hướng dẫn kỹ thuật gộp câu lệnh, và làm mẫu cho việc sử dụng nền tảng một cách có trách nhiệm, các chuyên viên hướng nghiệp có thể giúp người khác tương tác với AI theo những cách phản ánh cả giá trị sống lẫn mục tiêu của họ. AI và vai trò quản trị môi trường có thể hỗ trợ lẫn nhau khi được sử dụng một cách thận trọng và bền vững.

Những Điều Cần Tiếp Tục Cân Nhắc

Các cuộc thảo luận xoay quanh tác động môi trường của trí tuệ nhân tạo đang thay đổi rất nhanh, và không thể được trình bày đầy đủ trong một bài viết duy nhất dành cho người hành nghề. Những chủ đề như việc sử dụng nước, cách các hệ thống công nghệ lớn được xây dựng và vận hành bằng nguồn năng lượng nào, cũng như các quy định mới, đều rất phức tạp và có sự khác biệt tùy theo từng địa phương. Bài viết này nhằm đưa ra một điểm khởi đầu thực tiễn để hiểu về AI Xanh và làm mẫu cho việc sử dụng AI một cách có suy xét. Khi nghiên cứu, chính sách và công nghệ tiếp tục phát triển, các chuyên viên hướng nghiệp được khuyến khích duy trì sự cập nhật, đặt ra những câu hỏi phản biện, đồng thời tham khảo NCDA và các nguồn đáng tin cậy khác để có được sự hướng dẫn, nguồn lực và hoạt động phát triển chuyên môn liên tục liên quan đến AI, đạo đức và tính bền vững môi trường.

Tham khảo 

Carbon Trust. (2021). Carbon impact of video streaming.https://www.carbontrust.com/sites/default/files/documents/resource/public/Carbon-impact-of-video-streaming.pdf 

Google Sustainability. (2025). Google 2025 environmental report: AI inference efficiency and sustainability. https://sustainability.google/google-2025-environmental-report/ 

L., J. (2025). TikTok’s 50-million-ton carbon crisis: Almost seven times larger than Meta’s footprint. CarbonCredits.com. https://carboncredits.com/tiktoks-50-million-ton-carbon-crisis-almost-7x-bigger-than-metas-footprint/ 

OpenAI. (2025). Building an AI-ready workforce: A look at college student ChatGPT adoption in the United States. https://cdn.openai.com/global-affairs/openai-edu-ai-ready-workforce.pdf 

Thompson, A., & Hines, E. (2025). The use of ai in career development: different experiences in higher education with one unified goal. NCDA Career Developments, 41(2), 7-9.

Toro-Troconis, M. (2025). Think before you prompt: Reduce your AI carbon footprint with ROCKS. Association for Learning Technology. https://altc.alt.ac.uk/blog/2025/05/think-before-you-prompt-reduce-your-ai-carbon-footprint-with-rocks/#gref 

University of Montana. (2025). Our AI commitment. https://umontana.ai/commitment 

Wikipedia Contributors. (2025). Environmental impact of artificial intelligence. In Wikipedia. Retrieved November 3, 2025, from https://en.wikipedia.org/wiki/Environmental_impact_of_artificial_intelligence  

Thông tin tác giả

Angie Thompson, MFRW, là Trợ lý Giám đốc phụ trách Gắn kết Sinh viên và Giáo dục AI tại bộ phận Học tập Trải nghiệm và Thành công trong Sự nghiệp của Đại học Montana. Bà dẫn dắt các sáng kiến trên toàn trường về việc tích hợp AI một cách có đạo đức, bền vững và dễ tiếp cận; đồng thời phụ trách các công cụ hướng nghiệp ứng dụng AI, hoạt động tư vấn liên bang, và các mối quan hệ hợp tác với Trường Lâm nghiệp và Bảo tồn, Dịch vụ Quân nhân và Cựu chiến binh, cùng bộ phận Chăm sóc Sức khỏe Toàn diện của UM. Thompson đồng chủ trì Ủy ban Công nghệ của Hiệp hội Phát triển Nghề nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ (NCDA), đồng thời đóng góp cho Nhóm Đặc trách AI của NCDA, Nhóm Chuyên trách Nội dung AI của NACE, và Dự án Tương lai AI của UM. Các GPT được bà hiệu chỉnh, bao gồm các mô hình tập trung vào hướng nghiệp và hỗ trợ cựu chiến binh, đã trở thành những công cụ được sử dụng rộng rãi nhằm cải thiện khả năng tiếp cận, tính bền vững và sự trao quyền cho sinh viên trong các dịch vụ hướng nghiệp. Với hơn hai thập kỷ kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục đại học, bà mang đến sự kết hợp giữa hướng dẫn thực tiễn, năng lực lãnh đạo chiến lược và cách tiếp cận đặt sinh viên làm trung tâm trong giáo dục AI, sự sẵn sàng nghề nghiệp và việc ứng dụng công nghệ xanh.

Có thể liên hệ với bà qua email: angie.thompson@mso.umt.edu và trên LinkedIn tại: www.linkedin.com/in/angie-thompson1020.

Người dịch: Hồ Lan

Biên tập: Cẩm Thanh

Nguồn bài viết: Link

Photo by Artem Podrez

Bài viết Hướng dẫn sử dụng AI Xanh: Những lựa chọn bền vững dành cho chuyên viên khai vấn và tư vấn nghề nghiệp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Hành trình nghề nghiệp khi dịch chuyển: Hỗ trợ định hình Bản sắc Nghề nghiệp trong di cư toàn cầu https://huongnghiepsongan.com/hanh-trinh-nghe-nghiep-khi-dich-chuyen-ho-tro-dinh-hinh-ban-sac-nghe-nghiep-trong-di-cu-toan-cau/ Sun, 28 Jun 2026 05:38:40 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=31867 Tác giả: Elizabeth M. Thomas Sự dịch chuyển toàn cầu ngày càng định hình rõ nét cuộc sống của cả thân chủ lẫn những chuyên viên hướng nghiệp hỗ trợ họ. Trong năm 2024, có 304 triệu người sống ở một quốc gia khác với nơi họ sinh ra, chiếm khoảng 3,7% dân số thế ...

Bài viết Hành trình nghề nghiệp khi dịch chuyển: Hỗ trợ định hình Bản sắc Nghề nghiệp trong di cư toàn cầu đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Tác giả: Elizabeth M. Thomas

Sự dịch chuyển toàn cầu ngày càng định hình rõ nét cuộc sống của cả thân chủ lẫn những chuyên viên hướng nghiệp hỗ trợ họ. Trong năm 2024, có 304 triệu người sống ở một quốc gia khác với nơi họ sinh ra, chiếm khoảng 3,7% dân số thế giới và là con số cao nhất từng được ghi nhận (Liên Hợp Quốc, 2024). Khi làn sóng di cư trở nên phổ biến hơn, các chuyên viên hướng nghiệp cũng gặp phải những thách thức mới cho chính họ và cho cả thân chủ của họ. Lấy hành trình chuyển dịch từ Hoa Kỳ sang Châu Âu của tác giả làm ví dụ thực tế, bài viết này nêu bật các rào cản nghề nghiệp phổ biến khi ra nước ngoài và đúc kết những chiến lược thực tiễn mà các chuyên viên hướng nghiệp có thể áp dụng khi hỗ trợ những thân chủ dịch chuyển toàn cầu, hoặc khi tự mình trải qua những bước chuyển giao như vậy.

Tình huống: Vượt qua rào cản khi ở nước ngoài

Khi tôi chuyển từ Hoa Kỳ sang Áo để đồng hành cùng bạn đời tôi khi nhận được cơ hội làm việc “cả đời chỉ có một lần”, tôi đã hy vọng sẽ tạo dựng được một mục tiêu nghề nghiệp mới tại một đất nước mới. Tuy nhiên, hành trình này hóa ra phức tạp hơn tôi tưởng rất nhiều.

Mặc dù tôi đã dành trọn năm đầu tiên ở Áo để học tiếng Đức, kỹ năng ngôn ngữ của tôi vẫn không đủ đáp ứng cho nhiều vai trò, trong khi tỷ lệ cạnh tranh cho các vị trí nói tiếng Anh lại cực kỳ khốc liệt. Các tiêu chuẩn khắt khe về mặt chứng chỉ và thuật ngữ nghề nghiệp được Áo chứng nhận đồng nghĩa với việc tôi không được phép tự gọi mình là “nhà tham vấn” hay “khai vấn”, mặc dù tôi sở hữu bằng cấp cao cấp về tham vấn tâm lý. Tôi đã phải đối mặt với một quá trình học hỏi đầy thử thách để hiểu các quy chuẩn của Áo về sơ yếu lý lịch (CV), chiến lược tìm kiếm việc làm, cũng như đàm phán hợp đồng và thỏa thuận lao động. Việc xin giấy phép lao động cũng vô cùng phức tạp bởi các rào cản về thủ tục hành chính liên quan đến tình trạng cư trú của tôi.

Sau này tôi mới biết rằng những trở ngại này rất phổ biến khi người đi làm dịch chuyển xuyên quốc gia. Việc cố gắng theo đuổi cùng một công việc theo cùng một cách như khi ở “quê nhà” thường là điều không thực tế, đòi hỏi chúng ta phải linh hoạt, sáng tạo và kiên nhẫn.

Trong vòng bảy năm qua, tôi đã xây dựng các năng lực chuyên môn liên quan bằng cách tham gia vào các công việc không lương nhưng có mức độ tương thích cao với chuyên ngành, bao gồm việc thành lập một nhóm hỗ trợ nghề nghiệp đồng đẳng, viết chuyên mục nghề nghiệp cho một tổ chức phụ nữ quốc tế, tư vấn cho một trường quốc tế, và thuyết trình cho Sáng kiến Việc làm Toàn cầu của Đại sứ quán Hoa Kỳ. Song song với những công việc tình nguyện này, tôi cũng theo đuổi các vai trò có lương tương thích với nền tảng giáo dục của tôi. Mặc dù không có vị trí nào trong số này có từ “nghề nghiệp” trong chức danh công việc, chúng đã cho phép tôi vận dụng các kỹ năng chuyển đổi được vào các môi trường mới, chẳng hạn như các trường học và đại học quốc tế, và từng bước định hình các bản sắc nghề nghiệp mới. Trong những giai đoạn thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, tôi tiếp tục đầu tư vào sự phát triển cá nhân bằng cách thi lấy chứng chỉ Chuyên gia Tham vấn Nghề nghiệp (Certified Career Counselor) từ NCDA.

Áp dụng những bài học kinh nghiệm

Rút ra từ ví dụ thực tiễn này và các nghiên cứu về di trú và phát triển nghề nghiệp, các bước hành động dưới đây cung cấp những hướng dẫn thực tiễn cho các chuyên viên hướng nghiệp đang làm việc với các thân chủ dịch chuyển xuyên quốc gia, hoặc đang tự mình chuẩn bị cho những bước chuyển tiếp ra nước ngoài. Mặc dù bối cảnh của mỗi quốc gia là khác nhau, những nguyên tắc này nhìn chung đều có thể áp dụng rộng rãi.

Tìm hiểu thị trường từ sớm: Các chuyên viên hướng nghiệp nên khuyến khích thân chủ tìm hiểu các quy chuẩn thị trường lao động địa phương, văn hóa làm việc và quy trình tuyển dụng từ sớm trong quá trình di cư (McDonough, 2025). Những chiến lược hiệu quả ở quốc gia này có thể không hiệu quả, hoặc thậm chí phản tác dụng ở quốc gia khác. Điều này bao gồm việc hiểu các kỳ vọng về độ dài và định dạng của CV, giọng điệu của thư trình bày nguyện vọng tìm việc (cover letter), phong cách phỏng vấn và các quy chuẩn giao tiếp.

Làm rõ việc công nhận bằng cấp: Nhiều quốc gia có các quy trình chính thức để đánh giá và công nhận bằng cấp cũng như chứng chỉ nước ngoài. Những đánh giá này có thể quyết định chức danh chuyên môn nào mà cá nhân được phép sử dụng hợp pháp, những dịch vụ nào họ có thể cung cấp và cấu trúc tiền lương được thiết lập ra sao. Các chuyên viên hướng nghiệp có thể giúp thân chủ hiểu rõ các lộ trình cấp chứng chỉ, các hạn chế pháp lý, và những vai trò liên quan cho phép họ áp dụng kỹ năng của mình trong khi xây dựng năng lực ngôn ngữ và uy tín tại địa phương.

Tái định hình bản sắc nghề nghiệp: Quá trình chuyển dịch quốc tế thường đòi hỏi các cá nhân phải tách rời bản sắc cá nhân khỏi các chức danh hoặc vai trò cụ thể. Tái định vị bản sắc, chứ không phải là giữ lại bản sắc cũ, mới là nhiệm vụ phát triển then chốt trong quá trình di cư nước ngoài (Kanstrén & Mäkelä, 2022; McNulty, 2012). Thay vì cố gắng tìm một công việc rập khuôn theo vị trí trước đây, thân chủ sẽ nhận được nhiều lợi ích hơn từ việc xác định các năng lực cốt lõi, giá trị và các kỹ năng có thể chuyển đổi để áp dụng vào nhiều bối cảnh khác nhau. Các chuyên viên hướng nghiệp có thể hỗ trợ thân chủ xây dựng những cách kể chuyện dựa trên kỹ năng, nhấn mạnh khả năng thích ứng thay vì tính liên tục của vai trò công việc.

Tận dụng các vai trò liên quan: Những giai đoạn thiếu việc làm, khi bản sắc nghề nghiệp không thể được thể hiện một cách trọn vẹn, hoặc toàn bộ kỹ năng không được phát huy, là một hiện tượng phổ biến trong thời gian di cư nước ngoài, và nó có thể gây tổn hại tinh thần không kém gì tình trạng thất nghiệp (Betz, 2006). Các công việc tình nguyện, công việc hợp đồng ngắn hạn và hoạt động thiện nguyện mang tính chiến lược có thể đóng vai trò như những nhịp cầu ý nghĩa, giúp cá nhân duy trì sự kết nối chuyên môn trong khi tích lũy kinh nghiệm và xây dựng mạng lưới quan hệ tại địa phương. Các chuyên viên hướng nghiệp có thể bình thường hóa các lộ trình sự nghiệp phi tuyến tính và giúp thân chủ đánh giá xem các vai trò ngắn hạn hoặc không lương đóng góp thế nào vào sự bền vững nghề nghiệp và phát triển bản sắc lâu dài.

Đầu tư vào các mạng lưới chuyên nghiệp: Xây dựng mạng lưới chuyên nghiệp thường là yếu tố cốt lõi để gia nhập thị trường lao động nước ngoài thành công, đặc biệt là ở những nền văn hóa coi trọng các mối quan hệ. Xây dựng kết nối trước khi di cư, dù thông qua các mạng lưới trực tiếp hay trực tuyến như LinkedIn, và tiếp tục duy trì sau khi đến nơi, có thể đẩy nhanh tốc độ hội nhập và giảm bớt cảm giác cô lập. Các tổ chức toàn cầu hỗ trợ người lao động quốc tế, chẳng hạn như Mạng lưới Phụ nữ Chuyên nghiệp, đều có các chi hội địa phương trên khắp thế giới. Các chuyên viên hướng nghiệp có thể hướng dẫn thân chủ xác định các hiệp hội phù hợp và phát triển các chiến lược tiếp cận phù hợp với văn hóa.

Sự linh hoạt thích nghi bản sắc như một năng lực nghề nghiệp: Di cư toàn cầu đòi hỏi khả năng thích ứng, khả năng phục hồi và khả năng đối mặt với sự mơ hồ, đây là những năng lực nghề nghiệp thiết yếu trong một thị trường lao động toàn cầu. Các chuyên viên hướng nghiệp có thể giúp thân chủ gọi tên và nhìn nhận đúng những thế mạnh được phát triển thông qua quá trình sinh sống ở nước ngoài, bao gồm khả năng giải quyết vấn đề sáng tạo, tính kiên trì, sự linh hoạt trong nhận thức (cognitive flexibility), giao tiếp phi ngôn ngữ và sự nhận thức về đa văn hóa. Thay vì che giấu những khoảng trống trong lịch sử làm việc liên quan đến việc chuyển dịch quốc tế, thân chủ có thể biến các trải nghiệm này thành những điểm cộng đắt giá trên CV và trong các cuộc phỏng vấn.

Tái Hình dung Bản sắc Nghề nghiệp

Dù là do lựa chọn hay hoàn cảnh, việc sống và làm việc ở nước ngoài đòi hỏi các chuyên viên hướng nghiệp cũng như thân chủ phải chấp nhận để bản sắc của mình trải qua tiến hóa. Những bước dịch chuyển quốc tế nhắc nhở chúng ta rằng công việc không chỉ được định nghĩa bằng chức danh hay phiếu lương, mà bằng việc áp dụng một cách có chủ đích các kỹ năng, giá trị và mục tiêu cá nhân vào các bối cảnh luôn thay đổi. Bằng cách tái định hình các chuyển dịch nghề nghiệp quốc tế như một tiến trình phát triển thay vì một sự mất mát hay gián đoạn, các chuyên viên hướng nghiệp có thể hỗ trợ tốt hơn cho những cá nhân dịch chuyển toàn cầu, cũng như cho chính bản thân họ, bằng cách làm mẫu về khả năng thích ứng và linh hoạt thích nghi bản sắc. Trong một thế giới ngày càng kết nối sâu sắc, khả năng tái hình dung bản sắc nghề nghiệp xuyên biên giới không còn là một kỹ năng ngách, mà đã trở thành năng lực cốt lõi trong lĩnh vực phát triển nghề nghiệp.

 

Tham khảo 

Betz, N. (2006).  Basic issues and concepts in the career development counseling of women. In W. B. Walsh & M. J. Heppner (Eds.), Handbook of career counseling for women (2nd ed., pp. 45-74). Lawrence Erlbaum Associates.

Kanstrén, K., & Mäkelä, L. (2022). Expatriate partners’ subjective well-being and related resource losses and gains. Community, Work & Family, 25(4), 523-550.

McDonough, P. (2025, October 1). Beyond borders: Cultivating culturally conscious career counseling. Career Convergence. https://www.ncda.org/aws/NCDA/pt/sd/news_article/603206/_PARENT/CC_layout_details/false

McNulty, Y. (2012). ‘Being dumped in to sink or swim’: An empirical study of organizational support for the trailing spouse. Human Resources Development International, 15(4), 417-434.

United Nations. (2024). International migrant stock 2024: Key facts and figures. https://www.un.org/development/desa/pd/sites/www.un.org.development.desa.pd/files/undesa_pd_2025_intlmigstock_2024_key_facts_and_figures_advance-unedited.pdf

Thông tin tác giả

Elizabeth M. Thomas, MA, CCC, rất tâm huyết trong việc hỗ trợ các cá nhân gặp khó khăn về sự nghiệp trong bối cảnh quốc tế. Bà đã dành sự nghiệp của mình làm việc trong môi trường giáo dục từ bậc tiểu học đến đại học, bao gồm các trường quốc tế và đại học ở châu Âu. Elizabeth hiện sống ở Oslo, Na Uy, nơi bà là Quản lý Chương trình Cố vấn cho Mạng lưới Phụ nữ Chuyên nghiệp Na Uy và tiếp tục phục vụ nhu cầu liên quan đến sự nghiệp của cộng đồng quốc tế. Bạn có thể tìm thấy bà trên LinkedIn, và bà đặc biệt mong muốn được kết nối với các chuyên viên hướng nghiệp khác trong khu vực Bắc Âu.

Người dịch: Nhi Mol

Biên tập:  Hồ Lan

Nguồn bài viết: Link

Photo by Markus Krisetya on Unsplash

Bài viết Hành trình nghề nghiệp khi dịch chuyển: Hỗ trợ định hình Bản sắc Nghề nghiệp trong di cư toàn cầu đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Bảng đánh giá khó khăn nghề nghiệp (CDI) https://huongnghiepsongan.com/tracnghiem-cdi/ Thu, 25 Jun 2026 22:13:27 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=31641 Bài viết Bảng đánh giá khó khăn nghề nghiệp (CDI) đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Bài viết Bảng đánh giá khó khăn nghề nghiệp (CDI) đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Giáo viên Giáo dục Đặc biệt https://huongnghiepsongan.com/ntvt-giao-vien-giao-duc-dac-biet/ Tue, 23 Jun 2026 18:56:24 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=31620 1. Thông tin cơ bản Tuổi: 28 Giới tính: Nữ Số năm kinh nghiệm ở ngành nghề này: 6 năm Trình độ học vấn và chuyên ngành: Cử nhân Giáo dục Đặc biệt – Đại học Sư phạm TP.HCM Các chứng chỉ chuyên môn: Chứng chỉ Can thiệp Ngôn ngữ – Âm lời nói, Chứng ...

Bài viết Giáo viên Giáo dục Đặc biệt đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
1. Thông tin cơ bản
  • Tuổi: 28
  • Giới tính: Nữ
  • Số năm kinh nghiệm ở ngành nghề này: 6 năm
  • Trình độ học vấn và chuyên ngành: Cử nhân Giáo dục Đặc biệt – Đại học Sư phạm TP.HCM
  • Các chứng chỉ chuyên môn: Chứng chỉ Can thiệp Ngôn ngữ – Âm lời nói, Chứng chỉ bồi dưỡng phương pháp PECS (Giao tiếp qua tranh ảnh)
  • Số giờ làm hằng tuần: 44 giờ (Thứ 2 – Thứ 6 và sáng Thứ 7)
  • Loại hình & quy mô công ty: Trường chuyên biệt tư thục tại TP.HCM, quy mô khoảng 40 nhân viên (bao gồm giáo viên, bảo mẫu và các chuyên gia trị liệu)

2. Trách nhiệm chính của anh/chị ở công việc hiện tại là gì? Công việc này đem lại giá trị gì cho tổ chức, cho các bên liên quan?

Trách nhiệm chính của tôi là can thiệp sớm cho trẻ có nhu cầu đặc biệt (tự kỷ, chậm phát triển trí tuệ, tăng động giảm chú ý…). Cụ thể:

  • Đánh giá đầu vào: Xác định xem học sinh đang ở mức độ nào để lập Kế hoạch Giáo dục Cá nhân (IEP)
  • Giảng dạy trực tiếp: Dạy trẻ các kỹ năng trong các lĩnh vực phát triển, cách dùng giao tiếp để đòi hỏi thay vì la hét, dạy trẻ tự đi vệ sinh, tự ăn cơm và kiểm soát cảm xúc
  • Phối hợp với gia đình: Hướng dẫn phụ huynh cách tương tác với con tại nhà để kết quả dạy ở trường không bị “đổ sông đổ biển”

Giá trị mà công việc này mang lại: 

Đối với trẻ, tôi là người mở ra cánh cửa giao tiếp với thế giới.

Đối với phụ huynh, tôi là điểm tựa tinh thần giúp họ bớt hoang mang và nhìn thấy tương lai của con mình.

3. Anh/chị bắt đầu vào nghề như thế nào? Vì sao anh/chị chọn con đường này?

Tôi bén duyên với nghề sau một lần đi thiện nguyện tại mái ấm cho trẻ khuyết tật vào năm lớp 11. Lúc đó tôi đã tự hỏi: “Nếu không có ai kiên nhẫn với các em, các em sẽ đi về đâu?”.

Ban đầu, gia đình có phản đối vì sợ nghề này vất vả, thu nhập thấp và “dễ bị stress”. Nhưng tôi vẫn quyết tâm thi vào Sư phạm. Sau khi tốt nghiệp, tôi làm việc tại một trung tâm nhỏ trước khi chuyển về trường chuyên biệt hiện tại.

Nếu được chọn lại, tôi vẫn sẽ chọn nghề này. Dù có những lúc rất vất vả, nhưng khoảnh khắc nghe một đứa trẻ cất tiếng gọi “Cô” sau suốt 6 tháng kiên trì đồng hành và hỗ trợ thực sự rất ý nghĩa. Chính những tiến bộ nhỏ ấy là động lực để tôi tiếp tục gắn bó với công việc mỗi ngày. 

Bên cạnh đó, tôi may mắn được làm việc trong một môi trường tích cực. Trung tâm có các chuyên gia nước ngoài hỗ trợ về chuyên môn, đồng thời xây dựng được văn hóa làm việc lành mạnh. Vì vậy, dù công việc đôi khi áp lực và mệt mỏi, tôi vẫn luôn giữ được tinh thần ổn định và cảm thấy công việc mình đang làm là xứng đáng.

4. Một ngày làm việc tiêu biểu của anh/chị như thế nào?

Thời gian

Công việc chính
07:30 – 08:30 Đón trẻ, dạy tiết circle time (hoạt động vòng tròn)
08:30 – 10:30 Các tiết dạy cá nhân (1 cô – 1 trò)
10:30 – 11:30 Hoạt động nhóm (vòng tròn)

Dạy các con kỹ năng xã hội như chờ đến lượt, chào hỏi bạn bè

11:30 – 14:00 Hỗ trợ trẻ ăn trưa (đây cũng là giờ dạy kỹ năng tự phục vụ) và trực trưa cho trẻ ngủ
14:00 – 15:30 Tiếp tục các tiết can thiệp cá nhân hoặc hoạt động năng khiếu (vẽ, múa trị liệu)
15:30 – 16:30 Vệ sinh cho trẻ

Viết nhật ký theo dõi ngày hôm nay con học được gì, có hành vi gì lạ không để trao đổi với phụ huynh lúc đón về

16:30 – 17:00 Thu dọn giáo cụ

Họp nhanh chuyên môn với tổ bộ môn

Ghi chú

Làm việc từ Thứ 2 đến sáng Thứ 7. 

Thời gian có thể thay đổi nếu có các buổi hội thảo hoặc họp phụ huynh định kỳ.

5. Anh/chị thích nhất những điều gì ở công việc của mình? Vì sao?

Điều tôi thích nhất là sự chân thành tuyệt đối. Những đứa trẻ đặc biệt không biết nói dối. Khi các con yêu quý mình và chạy lại ôm, đó là tình cảm thật nhất. Công việc này cũng rèn cho tôi một tinh thần thép và sự bao dung mà tôi thỉnh thoảng vẫn ngỡ ngàng vì thấy mình có thể kiên nhẫn đến vậy.

6. Anh/chị không thích nhất những điều gì? Vì sao?

Áp lực lớn nhất không đến từ các con, mà đến từ sự kỳ vọng quá mức hoặc sự bỏ cuộc của phụ huynh. 

Ngoài ra, việc bị trẻ tấn công (cắn, cào) khi các con lên cơn bùng phát hành vi cũng là một “mảng tối” khó tránh khỏi của nghề.

7. Những điều kiện cần có để hoàn thành tốt công việc này (kiến thức, kỹ năng, thái độ, v.v…)? Nếu em muốn thăng tiến trong công việc thì em nên trau dồi những gì ạ?

  • Kiến thức: Phải vững tâm lý học phát triển và các phương pháp can thiệp (ABA, TEACCH, PECS).
  • Kỹ năng: Kỹ năng quan sát (để hiểu trẻ muốn gì khi chưa nói được) và kỹ năng sơ cứu cơ bản.
  • Thái độ: Kiên nhẫn là số 1, tiếp theo là sự thấu cảm.
  • Thăng tiến: Nếu em muốn đi xa, hãy học sâu về trị liệu chuyên biệt (như trị liệu ngôn ngữ hoặc âm nhạc) hoặc quản lý giáo dục.
  • Nguồn học: A365 – trang web về dạy trẻ tự kỷ ở Việt Nam, Understood – trang web của Mỹ

8. Những điều mà mọi người hay hiểu lầm về công việc này là gì? Tại sao họ lại hiểu sai như vậy?

Nhiều người nghĩ rằng giáo viên giáo dục đặc biệt chỉ là người “giữ trẻ đặc biệt” hoặc đang làm một công việc vì lòng thương. Nhưng thực tế, đây là một nghề nghiệp mang tính khoa học cao. Mỗi hoạt động, mỗi cách tương tác với trẻ đều được xây dựng dựa trên phân tích hành vi và những mục tiêu giáo dục cụ thể. 

Chúng tôi không đơn thuần là người trông trẻ; chúng tôi là những người dạy học, can thiệp và đồng hành cùng trẻ trên hành trình phát triển từng kỹ năng nhỏ nhất.

9. Công việc này có giúp em tự nuôi mình khi mới ra trường không?

Tại thành phố Hồ Chí Minh, nếu em làm tại các trường chuyên biệt tư thục hoặc trung tâm can thiệp, mức lương khởi điểm dao động từ 8 – 10 triệu đồng/tháng. Nếu em nhận dạy thêm can thiệp cá nhân tại nhà vào buổi tối (2-3 buổi/tuần), thu nhập dao động: 15 – 20 triệu đồng.

10. Nhìn lại con đường phát triển sự nghiệp cũng như quá trình tìm việc của mình, anh/chị có lời khuyên nào cho em nếu em muốn theo nghề này?

Đừng chọn nghề này vì “nghĩ mình hiền” hay “thương trẻ em”. Hãy chọn nó nếu em có sự kiên trì bền bỉ.

Bài viết Giáo viên Giáo dục Đặc biệt đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
Nhà nghiên cứu Nhân loại học độc lập https://huongnghiepsongan.com/ntvt-nha-nghien-cuu-nhan-loai-hoc-doc-lap/ Tue, 23 Jun 2026 18:46:32 +0000 https://huongnghiepsongan.com/?p=31616 1. Thông tin cơ bản Tuổi: 31 Giới tính: Nam Số năm kinh nghiệm ở ngành nghề này: 10 năm Trình độ học vấn và chuyên ngành: Thạc sĩ, chuyên ngành Nhân loại học, trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Số giờ làm hằng tuần: linh hoạt, trung bình là 35 – ...

Bài viết Nhà nghiên cứu Nhân loại học độc lập đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>
1. Thông tin cơ bản
  • Tuổi: 31
  • Giới tính: Nam
  • Số năm kinh nghiệm ở ngành nghề này: 10 năm
  • Trình độ học vấn và chuyên ngành: Thạc sĩ, chuyên ngành Nhân loại học, trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn
  • Số giờ làm hằng tuần: linh hoạt, trung bình là 35 – 45 tiếng
  • Loại hình & quy mô công ty: Làm độc lập

2. Trách nhiệm chính của anh/chị ở công việc hiện tại là gì? Công việc này đem lại giá trị gì cho tổ chức, cho các bên liên quan?

Công việc chính của tôi xoay quanh việc thu thập dữ liệu điền dã, nghĩa là trực tiếp sống và làm việc cùng với cộng đồng người dân để tìm hiểu về đời sống của họ. 

Sau đó, tôi sẽ tổng kết các kết quả nghiên cứu vào báo cáo để đưa ra các góp ý về mặt chính sách cho các bên liên quan.

3. Anh/chị bắt đầu vào nghề như thế nào? Vì sao anh/chị chọn con đường này?

Mọi chuyện bắt đầu vào năm tôi khoảng 19-20 tuổi. Trong một lần đi nhà sách, tình cờ “lụm” được cuốn sách “Chúng tôi ăn rừng” của Georges Condominas, tôi mới biết đến ngành Nhân học. Vì đam mê phiêu lưu và tò mò về văn hóa, tôi đã quyết định bỏ học ngành Kinh tế và thi đại học lại để đăng ký vào ngành này.

Quyết định đó lúc bấy giờ bị người thân ngăn cản gay gắt và bạn bè cười chê. Tuy nhiên, tôi vẫn kiên quyết theo đuổi đam mê. Sau khi tốt nghiệp, tôi làm việc tại một viện nghiên cứu tư nhân, nhưng sau đó chuyển sang làm nghiên cứu độc lập vì cảm thấy môi trường tổ chức hạn chế khả năng nghiên cứu của mình. 

Đời không phải lúc nào cũng đẹp như phim ảnh. Nhìn lại chặng đường đã đi qua, tôi thấy trong mình tồn tại nhiều mâu thuẫn. Nghề này mang đến không ít khổ sở, thế nhưng, sau tất cả, tôi nhận ra mình không thể sống thiếu niềm đam mê này.

4. Một ngày làm việc tiêu biểu của anh/chị như thế nào?

Lịch trình của tôi thay đổi tùy thuộc vào việc tôi có đang đi điền dã hay không:

  • Nếu đi điền dã: 
Sáng – Chiều Làm việc trực tiếp với người dân, thực hiện phỏng vấn theo đề cương nghiên cứu.
Tối 

(20.00 – 21.00)

Xử lý sơ bộ dữ liệu thu thập được trong ngày. 
  • Khi không đi điền dã: 

Tập trung xử lý dữ liệu trực tuyến và viết báo cáo nghiên cứu.

Thông thường tôi làm việc 5-6 ngày/tuần. Thời gian làm việc phụ thuộc nhiều sự hợp tác và hỗ trợ của chính quyền địa phương, hội đồng nghiên cứu, và cộng đồng tại thực địa.

5. Anh/chị thích nhất những điều gì ở công việc của mình? Vì sao?

Điều tôi tâm đắc nhất là cơ hội được gặp gỡ nhiều con người khác nhau và khám phá những “góc khuất” của xã hội, những lát cắt đời sống mà báo chí hay sách vở hiếm khi phản ánh đầy đủ. Việc cùng ăn, cùng ở, cùng làm với một cộng đồng trong thời gian dài, từ vài tuần đến thậm chí một năm, giúp tôi hiểu sâu hơn về bối cảnh văn hóa và các ngoại lực tác động lên họ. 

Những điều ấy rất khó có thể nắm bắt chỉ qua một vài cuộc phỏng vấn ngắn. Khi mới tiếp xúc, nhiều người thường giữ tâm lý dè dặt hoặc chỉ chia sẻ một phần câu chuyện của mình. Chỉ khi xây dựng được sự tin tưởng và đồng hành đủ lâu, những trải nghiệm, suy nghĩ và sự thật đằng sau cuộc sống của họ mới dần được hé mở.

6. Anh/chị không thích nhất những điều gì? Vì sao?

Ba vấn đề lớn nhất trong công việc này bao gồm: thu nhập, các yếu tố liên quan đến an ninh trong quá trình thực địa, và những tác động lên sức khỏe thể chất.

Thứ nhất, về thu nhập, mức lương hiện tại nhìn chung chưa tương xứng với khối lượng công việc, mức độ đầu tư thời gian cũng như yêu cầu về chuyên môn trong quá trình triển khai nghiên cứu thực địa.

Thứ hai, vấn đề an ninh trong một số bối cảnh nghiên cứu tạo ra không ít hạn chế, thường xuyên bị theo dõi, giám sát trong quá trình thực địa.

Thứ ba, yếu tố sức khỏe cũng là một thách thức đáng kể. Việc di chuyển liên tục, thay đổi môi trường sống trong thời gian dài có thể gây ảnh hưởng đến thể chất.

7. Những điều kiện cần có để hoàn thành tốt công việc này (kiến thức, kỹ năng, thái độ, v.v…)? Nếu em muốn thăng tiến trong công việc thì em nên trau dồi những gì ạ?

Tinh thần dấn thân: Đi làm thực địa phải rất chủ động nghĩ và làm. Thực tế luôn phức tạp, vì thế, nhà nhân học cần học cách linh hoạt với mọi tình huống thực địa. Ví dụ như khi đến địa bàn, người dân mời gì thì mình ăn đó, không nên khó tính chọn lựa.

Kỹ năng kết nối con người: Người làm nhân học cần khả năng nói chuyện và thích ứng nhanh với các hoàn cảnh văn hóa khác nhau. Mỗi vùng mỗi khác, nếu bạn hướng nội, ngại giao tiếp, bạn sẽ khó có thể thiết lập mối quan hệ với người dân địa phương, chứ đừng nói đến việc thu thập dữ liệu.

Tư duy nghiên cứu: Khả năng suy ngẫm và kết nối dữ liệu thực địa thành một hệ thống lý thuyết. 

Làm việc nhóm (Teamwork): Ngành này có một sự phức tạp là giỏi thực địa chưa chắc đã viết nghiên cứu tốt và ngược lại. Vì thế, việc cộng tác, làm việc với các nhà nhân học khác là quan trọng để có thể bổ sung được điểm yếu cho nhau.

Quản lý cảm xúc: Trong vai trò người quan sát khi nghiên cứu thực địa, bạn phải rất tỉnh táo và bình tĩnh để giữ tính trung lập, và không can thiệp vào cộng động địa phương, vì đây là một trong những đạo đức hành nghề này. Chính tôi và đồng nghiệp của tôi đã chứng kiến những cảnh bạo lực hay tự tử tại địa bàn, nhưng phải học cách giữ bình tĩnh, và quan sát suy nghĩ, cảm xúc của người địa bàn với những thứ như vậy.

8. Những điều mà mọi người hay hiểu lầm về công việc này là gì? Tại sao họ lại hiểu sai như vậy?

Mọi người thường “lãng mạn hóa” việc đi từ vùng văn hóa này sang vùng khác, nhưng thực tế đi điền dã rất phức tạp và mệt mỏi; đôi khi đến nơi người dân còn không tiếp đón. 

Một hiểu lầm khác là nghề này không kiếm được tiền. Thực tế là có thể sống được bằng nghề nhưng thu nhập không cao và cần sự kiên trì bền bỉ. Càng ở lâu trong nghề này, những nhận định của bạn càng có giá trị, không chỉ trong ngành mà còn liên ngành, vì thực tế mọi hoạt động hàng ngày của chúng ta đều liên quan ít nhiều tới con người. Càng hiểu sâu về con người, không chỉ về khía cạnh tâm lý mà còn đa chiều về văn hóa, tập tục,… các quyết định về chính sách, kinh doanh, giúp đỡ mới có hiệu quả.

9. Công việc này có giúp em tự nuôi mình khi mới ra trường không?

Nếu bạn làm việc tại các viện nghiên cứu chính thống, thu nhập chỉ dừng lại ở mức đủ sống chứ không thể giàu được. Bản thân tôi cũng phải đa dạng hóa các công việc khác nhau, áp dụng lý thuyết nhân học vào các mảng việc khác để đảm bảo kinh tế.

10. Nhìn lại con đường phát triển sự nghiệp cũng như quá trình tìm việc của mình, anh/chị có lời khuyên nào cho em nếu em muốn theo nghề này?

Nhìn lại quá trình phát triển sự nghiệp cũng như hành trình tìm việc của bản thân, tôi cho rằng có một số yếu tố quan trọng dành cho những ai muốn theo đuổi nghề này.

  • Trước hết là sự kiên nhẫn. Đây là yếu tố mang tính tiên quyết.
  • Thứ hai là sự chuẩn bị về kinh tế. Trong giai đoạn đầu, nếu có một nền tảng tài chính ổn định từ gia đình hoặc nguồn hỗ trợ khác, người làm nghề sẽ có điều kiện tập trung hơn cho quá trình học hỏi và phát triển chuyên môn.
  • Cuối cùng là tâm thế nghề nghiệp. Sẽ có những thời điểm người làm nghề cảm thấy hoài nghi hoặc thậm chí hối hận với lựa chọn của mình. Tuy nhiên, điều quan trọng là mức độ gắn bó, niềm đam mê và sự tỉnh táo để có thể tiếp tục theo đuổi con đường đã chọn một cách bền vững.

Bài viết Nhà nghiên cứu Nhân loại học độc lập đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Hướng nghiệp Sông An.

]]>