Học viên Chuyên viên Giáo dục & Tư vấn hướng nghiệp – Các câu hỏi thường gặp

Live Q&A (giải đáp trực tuyến): http://bit.ly/liveQACVHN

Quan điểm của Sông An về việc sử dụng sinh trắc vân tay là như thế nào?

Sông An nhận được nhiều câu hỏi từ chuyên viên hướng nghiệp, cha mẹ, và học sinh về quan điểm chuyên môn của tổ chức trong việc sử dụng sinh trắc vân tay trong các hoạt động giáo dục và tư vấn hướng nghiệp tại Việt Nam. 

Mời anh chị xem chi tiết tại bài viết sau: Bài viết chia sẻ quan điểm về sinh trắc vân tay trong mảng hướng nghiệp

Khi nào gọi là ngành, khi nào gọi là nghề, tiêu chí nào để phân biệt?

Theo định nghĩa từ Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (tái bản 2019) thì: 

  • Ngành nghề: nghề nghiệp chuyên môn (nói khái quát)
  • Ngành: lĩnh vực hoạt động về chuyên môn, khoa học, văn hóa, kinh tế, v.v…
  • Nghề: công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội

Đặt trong bối cảnh của lĩnh vực hướng nghiệp thì Sông An có lý giải sau:

  • Ngành: có thể hiểu là ngành đào tạo hoặc ngành nghề (industry)
  • Nghề: một vị trí đã được khái quát (vd: nghề luật sư)/phòng ban cụ thể (vd: nghề kế toán) trong doanh nghiệp/tổ chức
  • Trường hợp đặc biệt: với các bộ phận lõi của một doanh nghiệp/tổ chức như Nhân sự, Tài chính/Kế toán, Marketing, Sales, v.v… thì vì sự bao phủ/phổ biến của nó khá rộng nên thường được gọi là ngành nghề hoặc ngành/nghề

Danh mục ngành nghề vs. Chương trình đào tạo:

Danh mục ngành nghề giống như các kệ sách trong thư viện được phân loại và bao gồm một danh sách các ngành đào tạo (vd: ILO) hoặc ngành nghề (vd: ACT, O*NET) được thu thập đến một thời điểm.

Chương trình đào tạo thì đi chuyên về giáo dục nên sẽ có thể phân loại tùy tình huống. Thông thường, các đào tạo chính quy (formal education) thì thông tin chương trình đào tạo bài bản hơn và gồm các mục mô tả cụ thể (vd: chương trình M.Ed. của UoPeople). Tuy nhiên, các khóa ngắn hạn để trau dồi năng lực hành nghề vẫn rất quan trọng (như của LinkedIn (đặc biệt sau khi mua lại Lynda) hay các micro programs như của MIT chẳng hạn).

Lý do hạn chế dùng khái niệm kỹ năng mềm? Hiểu sao cho đúng về kỹ năng mềm?

Thế nào là kỹ năng mềm “soft skill”?

Theo Childtrend (Workforce connections: Key soft skills that foster youth workforce success, Child Trends, June 2015), kỹ năng mềm là sự tổng hòa của các kỹ năng liên quan tới con người, kỹ năng xã hội, giao tiếp; và là nền tảng để ta có thể thích nghi với môi trường, làm việc được với người khác, và thành công trong cuộc sống. 

Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm về kỹ năng mềm cũng chưa thật sự rõ ràng, đôi lúc quá bao quát, đôi lúc quá cụ thể, thỉnh thoảng một số nhà nghiên cứu về nghề nghiệp thay đổi thành các khái niệm tương đương như kỹ năng thiết yếu (essential skills), kỹ năng con người (human skills), kỹ năng nền tảng (foundational skills)… 

Do vậy, nên hầu hết các đơn vị nghiên cứu của các tổ chức lớn như World bank, hay WEF sẽ chọn những khái niệm khác nhau để mô tả về nhóm kỹ năng này.

Ở vai trò chuyên viên, trong mỗi nghiên cứu/tài liệu, chúng ta cần phân tích kỹ năng nào thuộc nhóm kỹ năng chuyên môn, kỹ năng nào là nền tảng/thiết yếu/con người.

Vd1: World Bank

Kỹ năng kỹ thuật liên quan là kỹ năng chuyên môn còn các kỹ năng còn lại là Kỹ năng nền tảng/thiết yếu/con người

Nhóm Nhận thức và Hành vi xã hội là Kỹ năng nền tảng/thiết yếu/con người còn kĩ thuật là kỹ năng chuyên môn

Vd2: bộ kỹ năng sống trong thế kỷ 21 của WEF là kỹ năng nền tảng/thiết yếu/con người.

Vd3: Trong báo cáo Robot ready, human skills là kỹ năng cơ bản/thiết yếu/con người và technical skills là kỹ năng chuyên môn

Vai trò của chuyên viên khi tiếp cận các khái niệm

Dựa vào những ví dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng, việc gom những kỹ năng con người/thiết yếu thành “kỹ năng mềm” (soft skills) hay kỹ năng chuyên môn/kỹ thuật thành “kỹ năng cứng” (hard skills) về cơ bản chỉ là cách đơn giản hoá tên gọi cho các nhóm kỹ năng khác nhau nhưng có tầm quan trọng ngang nhau đối với một người lao động. Tuy nhiên, việc sử dụng từ “kỹ năng mềm” bên cạnh “kỹ năng cứng” vô hình chung làm giảm giá trị và tầm quan trọng của kỹ năng này so với “kỹ năng cứng” và điều này hoàn toàn không phản ánh đúng thực tế. “Mềm” không có nghĩa là không cần thiết, không quan trọng, không mang tính sống còn.

Đã có rất nhiều bài báo, nghiên cứu khẳng định rằng một người thành công là khi họ giỏi cả kỹ năng chuyên môn và kỹ năng con người. Việc rèn luyện kỹ năng con người cũng khó khăn không kém so với việc rèn luyện kỹ năng chuyên môn. Khi mà thế giới ngày càng hội nhập, ngày càng phẳng, việc chỉ có kỹ năng chuyên môn sẽ không để đảm bảo một người lao động hoàn thành tốt việc làm trong môi trường làm việc có tính cộng tác cao, làm việc từ xa (như trong giai đoạn Covid). Và khi có vấn đề xảy ra, thường là do chúng ta hiểu nhầm trong truyền đạt thông tin – kỹ năng giao tiếp, hoặc môi trường làm việc không có tính đoàn kết – kỹ năng làm việc nhóm, hoặc không có khả năng giải quyết vấn đề hài hòa giữa các nhóm khác nhau/hiệu quả – kỹ năng giải quyết vấn đề, hay chưa có tư duy phản biện đối với vấn đề, v.v. hơn là những vấn đề thiên về kỹ thuật/chuyên môn thuần tuý. 

Do vậy, với vai trò là người hướng nghiệp, chúng ta nên cẩn trọng trong việc sử dụng từ, để tránh những sự phân hoá không chính xác của học sinh về tầm quan trọng của các kỹ năng cần thiết để trở thành một người lao động được trang bị toàn diện các kỹ năng trong thị trường lao động đang biến đổi không ngừng.

Khái niệm kỹ năng mềm “soft skill”, dùng có thật sự đúng?

Ngoài ra, CVHN có thể tham khảo thêm bài viết của tác giả Ann Villiers chia sẻ quan điểm của mình về khái niệm kỹ năng mềm “soft skills”. Trong bài viết đó, cô nhắn nhủ CVHN cần lưu ý hoặc thay đổi các từ ngữ liên quan tới kỹ năng mềm mà mình thường sử dụng, cụ thể sử dụng khái niệm kỹ năng mềm:

  • Là không chính xác: Mọi người thường sẽ xem nhẹ vai trò của các kỹ năng “mềm” hơn các kỹ năng “cứng”. Trên thực tế, các nghề nghiệp hoặc công việc trong hiện tại và tương lai đều có sự yêu cầu đồng đều về các kỹ năng mềm/cứng.
  • Là phân biệt giới: Khái niệm “kỹ năng mềm” thường khiến mọi người xem đó là các kỹ năng của nữ giới, thiên về nữ tính. Nhưng thực tế lại cho ta biết kỹ năng mềm đều cần phải xuất hiện ở mọi nhân sự khi phát triển nghề nghiệp.
  • Là thiếu chuyên nghiệp: Khái niệm này thường gây nhiều tranh cãi khi đề cập trong các văn bản chuyên nghiệp. Do đó, CVHN nên cân nhắc dùng các từ thay thế thường được dùng trong các văn bản chuyên môn trong các hiệp hội APCDA hay NCDA.
  • Có thể thay thế thành các từ ngữ khác: Hãy dùng các từ mô tả cụ thể như kỹ năng giao tiếp; kỹ năng xã hội; kỹ năng nâng cao khả năng tuyển dụng (employability skills).

Bài viết đầy đủ tại đường dẫn sau: Why We Should Stop Using ‘Soft’ Skills 

Danh sách 7 câu hỏi liên quan tới Bản đồ thế giới nghề nghiệp

Các câu hỏi được thu thập bởi cựu học viên lớp CVHN và CVGDHN.

Phần trả lời do Tiến sĩ Becky L. Bobek (Tổ chức ACT)

Người dịch: Đoàn Duyên Anh và Biên tập: Lê Khương

1. Tại sao Bản đồ thế giới nghề nghiệp bắt đầu với Khối ngành Quản trị & Bán hàng?

Bản đồ thế giới nghề nghiệp không thực sự bắt đầu với Khối ngành Quản trị & Bán hàng. Thay vào đó, các khối ngành nghề nghiệp có liên quan với nhau theo những cách cụ thể và các nhiệm vụ công việc cơ bản giúp giải thích được điều này. Tất cả các nhiệm vụ công việc được chia thành bốn loại cơ bản: làm việc với dữ liệu (dữ liệu, tài liệu, thủ tục, con số), làm việc với ý tưởng (lý thuyết, kiến ​​thức, hiểu biết sâu sắc), làm việc với con người (giúp đỡ, giảng dạy, phục vụ, quan tâm) và làm việc với sự vật (công cụ, máy móc, máy tính). Các khối ngành liền kề thì giống nhau. Ví dụ: khối ngành Nghệ thuật và Khoa học & Công nghệ tương tự nhau ở chỗ: các nghề trong hai khối này nhấn mạnh vào các công việc liên quan tới ý tưởng. Tuy nhiên, chúng có phần khác nhau ở mức độ làm việc với con người và sự vật: khối ngành Nghệ thuật liên quan đến nhiệm vụ công việc tương tác với con người nhiều hơn, trong khi khối ngành Khoa học & Công nghệ liên quan đến nhiệm vụ công việc tương tác với sự vật nhiều hơn. Các khối ngành nằm đối diện nhau trong Bản đồ thế giới nghề nghiệp là khác nhau nhất. Ví dụ: các nghề trong khối ngành Nghệ thuật liên quan đến ý tưởng và con người, trong khi các nghề trong khối ngành Vận hành kinh doanh liên quan đến ý tưởng và sự vật

2. Tại sao trong mỗi khối ngành lại có hai khu vực? Và tại sao khu vực số 1 lại nằm trong khối ngành Dịch vụ Xã hội mà không nằm trong khối ngành Quản trị & Bán hàng?

Việc phân chia khu vực tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình đánh giá điểm để điền kết quả của một cá nhân trên Bản đồ (thường nằm trong 2-3 khu vực), chứ không chỉ thuộc về một khối ngành duy nhất. Bạn có thể nhận thấy mỗi khối ngành nghề nghiệp có các mũi tên ở hai bên được hiển thị trên Bản đồ. Điều này chỉ ra rằng các khối ngành có sự chồng chéo lên nhau, do vậy có những nghề trong khu vực 1 có thể có một số điểm tương đồng với các nghề trong cả khối ngành Dịch vụ Xã hội và Quản trị & Bán hàng.

3. Đối với một công việc mới như Chuyên viên phân tích dữ liệu, tôi tò mò muốn biết cách các bạn quyết định phân loại vào khối ngành nào (các bạn sẽ sử dụng tiêu chí nào và thông tin nào để đưa ra quyết định này).

Việc phân bố nghề nghiệp vào 26 lĩnh vực dựa trên vị trí các mã nghề O*NET theo nhiệm vụ công việc là dữ liệu/ý tưởng và sự vật/con người ứng với các nhiệm vụ, mục tiêu và bối cảnh công việc sẽ cung cấp thông tin cho các quyết định nghề nghiệp. Các lĩnh vực nghề nghiệp được phân loại theo khối ngành sẽ giúp xác định các công việc dựa theo từng khối ngành tương ứng.

4. Tôi liên tục nhận được câu hỏi từ phụ huynh/học sinh về khả năng Bản đồ thế giới nghề nghiệp sẽ lỗi thời khi nhiều ngành nghề mới đang xuất hiện, đặc biệt là trong cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Phản hồi của các bạn về điều đó là như thế nào?

Bản đồ được đánh giá và cập nhật định kỳ với những công cụ diễn giải phù hợp.

5. Bản đồ thế giới nghề nghiệp có được cập nhật để theo kịp với sự thay đổi của thị trường lao động ngày nay không? Nếu có, làm thế nào để chúng tôi có thể theo dõi những thay đổi đó?

Bản đồ sẽ được cập nhật trong tương lai, mặc dù thời gian cập nhật  phụ thuộc vào tính sẵn có của các dữ liệu liên quan, khả năng và mức độ ưu tiên của tổ chức. Các cập nhật sẽ được ghi nhận trong ACT Interest Inventory Technical Manual khi Bản đồ được cập nhật và đăng trên mục nghiên cứu của website act.org.

6. Có nghề nghiệp nào không thuộc vào các nhiệm vụ công việc Dữ liệu/Ý tưởng và Con người/Sự vật không?

Tất cả các nghề đều có thể được phân loại theo hệ thống phân loại nghề nghiệp. Như đã trình bày ở trên, các nhiệm vụ công việc liên quan đến các khối ngành và các khu vực nghề nghiệp được phân loại vào các khối ngành. Các nghề nghiệp trong một khu vực nghề nghiệp có cùng nhiệm vụ công việc và mục đích chung. Mọi nghề nghiệp tại Hoa Kỳ có thể được phân loại thành một trong 26 lĩnh vực nghề nghiệp và do đó được xếp vào một trong sáu khối ngành. Hệ thống phân loại này cung cấp cái nhìn toàn diện về tất cả các nghề nghiệp tại Hoa Kỳ.

7. Hiện nay có bất kỳ tài nguyên nào giúp xác định mã Holland được yêu cầu trong một chuyên ngành đại học cụ thể dựa trên Bản đồ thế giới nghề nghiệp không?

Bản đồ thế giới nghề nghiệp giúp các cá nhân chọn ra ngành nghề thông qua các lĩnh vực nghề nghiệp dựa trên đặc điểm cá nhân của họ (như sở thích, khả năng và giá trị). Bản đồ không liên kết các cá nhân với các chuyên ngành đại học cụ thể, mà thông tin nghề nghiệp riêng biệt của từng chuyên ngành sẽ phản ánh trình độ chuyên môn cần thiết để theo đuổi nghề nghiệp đó. Tôi không có thông tin về tài nguyên giúp xác định mã Holland cho một chuyên ngành cụ thể.

Cô có thể cho em lời khuyên làm cách nào để vẫn giữ được sự trung dung, bình tĩnh khi em mất đi năng lượng và thiếu kiên nhẫn với các thân chủ quá bị động?

Bước đầu tiên mà em cần làm là biết mình đang bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và em đang làm rất tốt.

Bước thứ hai là học để hiểu vì sao mình lại bị kích hoạt bởi nhóm này mà không phải bởi nhóm kia: có thể học qua đọc Search Inside Yourself (đã dịch ra tiếng Việt, em tìm mua nghen), học qua lớp. Phoenix thấy lớp của Việt An Psychology là 1 lớp khá hay. Em tìm trên FB của họ để tìm hiểu; ngoài ra nếu tiếng Anh ổn, em theo trang này của cô Susan David, có nhiều bài rất hay về cảm xúc, https://www.linkedin.com/company/susan-david/. Em nghe Ted Talk của cô ấy cũng hay lắm.

Bước thứ ba là học rồi thực hành. Đây là 1 hành trình dài, và em cần a. học, b. hành động/suy ngẫm, và c. từ từ có năng lực sống cùng cảm xúc hiệu quả.

Liệu em có thể đánh máy lại nội dung của bộ thẻ Kỹ năng tạo động lực lên Word và làm thành hoạt động online với từng bước như khi làm trực tiếp được không?

Phoenix khuyên em đừng bao giờ đánh máy lại nội dung và làm thành hoạt động online trước khi được phép từ tác giả/người giữ bản quyền. Ở đây công ty Phi&P đã có bản quyền bán tại Việt Nam nên không được phép em nhé. Em tham khảo phần Phoenix chia sẻ về Kỹ năng tạo động lực làm online tại video này: https://youtu.be/Ym0MOTOYphY. Trong đoạn này, Phoenix hướng dẫn cách thực hiện cho 1 người, nhưng em hoàn toàn có thể sử dụng để làm với một nhóm đông người qua Zoom, rất đơn giản. Em nên sử dụng thêm công cụ này vì phần lớn người bình thường không nghĩ ra kỹ năng họ có. Em có thể sử dụng danh sách này cho họ tham khảo: http://bit.ly/dskynang4.

Làm thế nào để biết giá trị của mình? Có phải giá trị chính là điều mình tin là quan trọng nhất với mình phải không? Tức là mỗi khi đứng trước một sự lựa chọn khó khăn, giá trị chính là tiêu chí lựa chọn hoặc đánh giá?

Câu hỏi này sẽ được trả lời khác nhau tùy vào quan điểm của người trả lời. Phoenix trả lời từ góc nhìn hướng nghiệp nhé. Từ góc nhìn hướng nghiệp thì làm việc là 1 trong những vai trò mà một người nắm giữ. Và sẽ không thực tiễn nếu tách các vai trò ra khỏi nhau. Do đó, theo tôi thì khi nghĩ đến giá trị, để khỏi bị rối, ta nên bắt đầu bằng “vai trò.” Ở giai đoạn hiện tại trong cuộc sống, “vai trò” đối với ta là quan trọng nhất. Ví dụ: người mẹ/cha, người chồng/vợ, người lao động/quản lý/đồng nghiệp, người công dân, vv. Sau khi xác định vai trò rồi, ta mới xác định giá trị quan trọng nhất ở thời điểm hiện tại.

Không nên có “đúng” hay “sai” tuyệt đối. Thay vào đó, nên có sự rõ ràng vì sự rõ ràng giúp ta ra quyết định những khi phải chọn lựa giữa hai thứ rất khác nhau. Ví dụ cụ thể của tôi. Vào năm 31 tuổi, tôi sinh con trai của mình. Trước đó, học/làm với tôi là quan trọng nhất. Từ khi có bạn nhỏ, trong suốt 12 năm sau đó, vai trò làm mẹ và giá trị gia đình với tôi là quan trọng nhất. Tất cả quyết định có lên chức không, có đi làm xa không, vv. đều tùy thuộc vào vai trò làm mẹ và giá trị gia đình này của tôi. Khi con trai 12 tuổi và không cần tôi nhiều như trước, tôi đẩy vai trò người lao động lên trước. Và vì vậy, giá trị đóng góp cho cộng đồng cũng như là một người tiên phong trong lĩnh vực tôi chọn sẽ là ưu tiên một ở thời điểm này và sắp tới. Ở đây, hãy xem việc hiểu giá trị mình theo đuổi như một hành trình. Như khi ta tìm hiểu bản thân, giá trị là 1 phần của hành trình đó. Đừng ép ta có câu trả lời rõ ràng nếu ta chưa có. Hãy kiên nhẫn, kiên trì, và luôn quan sát bản thân. Từ từ ta sẽ tìm ra câu trả lời.

Chào cô, cô cho em hỏi các câu hỏi trắc nghiệm Holland vì sao không được trộn lẫn giữa các nhóm với nhau mà lại tách thành từng nhóm sở thích. Khi tách như vậy, dễ làm cho người làm trắc nghiệm hơi chủ quan về sở thích của mình.

Về cơ bản, sở thích của con người thường chủ quan, thiếu ổn định và đôi lúc không rõ ràng. Trong khi đó, lý thuyết Holland và công cụ trắc nghiệm ra đời nhằm mục đích giúp người thực hành hướng nghiệp có thể tương đối khu trú lại sở thích của thân chủ và dựa theo đó để phần nào giúp thân chủ hiểu bản thân và đi sâu vào các khía cạnh khác của việc hiểu mình. Do đó, việc chia ra cụ thể các nhóm là điều cần thiết nhằm cân bằng với các đặc tính về sở thích và tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn, giáo dục và nghiên cứu.

Trong mô hình cầu vồng, tại sao “giải trí” được coi là 1 vai trò? Em nghĩ nó là loại hoạt động hơn là vai trò.

Theo tác giả Super Donald thì leisure / giải trí là 1 vai trò, và theo ông thì vai trò này rất quan trọng trong đời sống 1 người, giúp 1 người tìm được sự cân bằng và niềm vui. Không phải ai cũng xem đây là 1 vai trò và không phải ai cũng thấy cần thiết. Đây là nghiên cứu của thầy; mình có thể không đồng ý và không chọn sử dụng vai trò này, nhưng anh/chị nhớ là đây là kết quả nghiên cứu của thầy Super đó.

Đối với các trường hợp phụ huynh và học sinh bất đồng ý kiến về định hướng nghề nghiệp của con em mình, giáo viên cần làm gì để gợi ý định hướng cho học sinh và gia đình?

Xác nhận từ đầu thân chủ của GVHN là học sinh. Và làm rõ ngay từ đầu với cha mẹ họ tất cả những điều kiện đi kèm: a. Học sinh là thân chủ, b. Không chia sẻ thông tin với cha mẹ trừ khi thân chủ cho phép, c. Không về phe cha mẹ để khuyên thân chủ. Trách nhiệm của thân chủ: họ là người đóng trách nhiệm chính trong hành trình hướng nghiệp, không phải GVHN, không phải cha mẹ, không phải ai khác mà là chính họ. Nếu họ chưa hiểu bản thân, họ cần phải đọc thêm phần hiểu mình trên kênh tài nguyên để hiểu thêm về bản thân. Nếu họ chưa hiểu ngành học, họ cần phải làm bài tập trên kênh tài nguyên để làm bài tập. Họ phải là người chủ động đi tìm câu trả lời, không phải GV, không phải cha mẹ, không phải ai khác. Nếu họ bắt đầu trễ và không có giờ trải nghiệm, vai trò của GVHN là giúp cho họ tìm những ngành học không sai, và họ phải bắt đầu tìm hiểu sau khi vào ngành học đó.

Trách nhiệm của GVHN: là người lắng nghe, đồng hành, là người có công cụ, kiến thức về hướng nghiệp, để biết ở giai đoạn nào thì nên dùng lý thuyết nào, trắc nghiệm nào, và công cụ nào để giúp thân chủ hỏi câu hỏi đúng. GV khuyến khích thân chủ làm bài tập, nhưng nếu họ không làm, GV không ép được, và không tiếp tục hỗ trợ cho đến khi thân chủ làm bài tập. GV không làm thay việc của thân chủ! Vì vậy, GVHN cần hiểu rất rõ lý thuyết, trắc nghiệm, biết kênh tài nguyên và phương pháp tìm thông tin về thị trường đào tạo và thị trường lao động. GVHN không cần biết tất cả câu trả lời cho câu hỏi WHAT/CÁI GÌ, nhưng cần biết câu trả lời cho câu hỏi HOW/LÀM CÁCH NÀO. Vì vậy, GVHN phải học hỏi liên tục. Cẩn thận khi áp dụng mô hình bán hàng của kinh doanh vào tư vấn và giáo dục HN. Chúng ta ở cạnh, lắng nghe, đề nghị thân chủ có thể dùng một số công cụ nào đó, nhưng chúng ta không giải quyết vấn đề của thân chủ.

Ví dụ, chúng ta có thể hỏi họ về nỗi sợ, đề nghị họ đi tìm gặp chuyên gia để giải quyết nỗi sợ, nhưng chúng ta không giúp họ giải quyết vấn đề sợ của họ. Mối quan hệ của chúng ta vào thân chủ kết thúc khi họ trả lời được câu hỏi họ đặt ra vào lúc mới gặp chúng ta. Nếu sau đó họ cần trợ giúp nhanh thì chúng ta có thể hỗ trợ qua email. Nhưng nếu cần hỗ trợ sâu thì phải bắt đầu quá trình tư vấn lại từ đầu. Cách hậu mãi tốt nhất là cho họ những thông tin/kênh tài nguyên để khi họ cần, họ tự tìm ra cách giải quyết vấn đề cho họ. Chúng ta không muốn thân chủ cần chúng ta suốt đời. Thân chủ càng tự lập và tự chủ sớm, chúng ta càng thành công.

Trong trường hợp mình làm các bài test để phân loại nhóm tính cách & đặc tính nghề nghiệp, ví dụ đều ra được kết quả nhất quán là 1 ngành thuộc nhóm xã hội - thích giúp đỡ người khác ví dụ như tư vấn, support về giải pháp … nhưng thân chủ lại không thích làm việc nhiều với con người hoặc không giỏi tạo network/ không quảng giao thì người tư vấn nên đưa ra hướng hỗ trợ giải quyết như thế nào ạ?

Hãy nhớ rằng bài trắc nghiệm sở thích Holland chúng ta đang sử dụng chỉ trắc nghiệm về “sở thích nghề nghiệp.” Từ sở thích đến khả năng là 1 hành trình dài bao gồm trải nghiệm các hoạt động, quan sát bản thân và suy ngẫm để rút ra kết luận là ta có khả năng làm những hoạt động ta thích không. Trong hành trình này, thân chủ sẽ từ từ hiểu thêm về bản thân, những điểm có thể và chưa thể. Từ đó thân chủ tự đưa ra câu trả lời cho câu hỏi, “Vậy kế tiếp mình nên học gì, làm gì, trau dồi kỹ năng gì?” Hãy quay lại lời nhắc của tôi về vai trò của một Giáo viên hướng nghiệp, đó là, “Đồng hành cùng thân chủ, lắng nghe và đặt câu hỏi để giúp họ mở rộng góc nhìn, có thêm thông tin, được khuyến khích làm bài tập tìm hiểu chính bản thân và thị trường lao động. Nói ngắn gọn, vai trò của GVHN là giúp thân chủ đi qua quy trình để trả lời 3 câu hỏi, “Tôi là ai, Tôi đang đi về đâu, Làm sao tôi đến được nơi tôi muốn đến?”

Để trả lời câu hỏi trên, sau khi đã giúp thân chủ nhận ra rằng họ “thích giúp đỡ người khác ví dụ như tư vấn, support về giải pháp … nhưng lại không thích làm việc nhiều với con người hoặc không giỏi tạo network/ không quảng giao”, GVHN tiếp tục đặt câu hỏi và ra bài tập để thân chủ quyết định a. Dấn thân vào lĩnh vực tư vấn (hay tương tự) và phải học thêm để khắc phục điểm yếu (không thích làm việc nhiều với con người hoặc không giỏi tạo network/ không quảng giao), b. Không dấn thân vào lĩnh vực tư vấn và tìm một lĩnh vực khác phù hợp hơn. Ở đây, phải ghi nhớ rằng GVHN không phải là thượng đế, không phải là người giải quyết vấn đề, không phải là người có cây đũa thần mà chỉ cần vung lên là trả lời được vấn đề của thân chủ.

Sau khi làm bài test, kết quả của thân chủ ra có kết quả 1 nhóm ngành nghề cao nhưng thân chủ khẳng định lại không thích nhóm ngành đó? Vậy người tư vấn cần giải quyết như thế nào ạ?

Xin nhắc lại, trắc nghiệm sở thích Holland mà chúng ta đang dùng chỉ đo mức độ yêu thích của một người. Do đó, nếu thân chủ có kết quả 1 nhóm đặc tính cao mà không thích nhóm ngành nghề tương ứng thì có nghĩa là lúc làm trắc nghiệm, họ chỉ nghĩ đến “tôi có thể làm” thay vì nghĩ “tôi thích”. Trong trường hợp trên, đề nghị thân chủ làm lại (hoặc ngồi với họ xem hình lục giác) với tâm thế đi tìm sở thích nghề nghiệp của mình.

Sau đó bắt đầu lại quy trình tư vấn hướng nghiệp: thích gì >>> giỏi gì >>> ngành nghề nào hợp? Nếu thân chủ đã đi làm lâu và không dễ dàng đổi nghề, đây là một hành trình tư vấn cần nhiều kiến thức và kỹ năng hơn là lớp GVHN có thể cung cấp. GVHN chỉ đủ sức hỗ trợ các em học sinh cấp 2 và cấp 3 mà thôi. GVHN nếu muốn làm được điều trên cần phải thực hành nhiều và học thêm.

Em thấy trong file nghề nghiệp gợi ý của 26 nhóm ngành nghề Sông An post trên website, nhóm thuộc về nhân sự chỉ có 4 nghề, trong khi trong video của cô Marilyn có đến 8 nghề. Cho em hỏi vì sao có sự khác biệt này và Sông An có bản gốc của cái Career Cluster này thì chia sẻ giúp em được không ạ.

– Phiên bản Sông An chia sẻ có sự kết hợp giữa ACT và O*NET nên Trâm có thấy mã các nhóm Holland (3 ký tự theo RIASEC) ở cuối. Tụi Uyên đã đối chiếu giữa danh sách ACT của cô Marilyn cung cấp (cập nhật vào tháng 5/2015) với dữ liệu gần 900 nghề được cập nhật mới hơn trên O*NET để ra được danh sách công bố trên website Sông An. Trong quá trình đối chiếu tụi Uyên phát hiện ra có những nghề không có mã nhóm Holland tương ứng trên O*NET mà vẫn thuộc về nhóm nghề đó trên danh sách của ACT, cũng như có một số nghề chưa xuất hiện ở Việt Nam => tụi Uyên lược bỏ và chỉ giữ lại những tên nghề phù hợp nhất.

– Danh sách nghề được ACT công bố hiện tại anh chị có thể xem file được trích dẫn trong bài viết của Sông An – https://huongnghiepsongan.com/nganh-nghe-theo-cac-nhom-holland/

– Còn về file gốc của cô Marilyn chia sẻ riêng cho Sông An để tham khảo thì chưa phải là tài liệu công bố rộng rãi nên tụi mình tạm thời chưa thể chia sẻ file cho các học viên được. Ngoài ra, anh chị lưu ý là danh sách này chỉ mang tính gợi ý hơn là bao hàm đầy đủ các ngành nghề. Vì thị trường lao động thay đổi chóng mặt và mỗi quốc gia lại có các đặc thù riêng nên ở vai trò của một giáo viên hướng nghiệp/chuyên viên hướng nghiệp thì mình hướng dẫn phương pháp tìm hiểu nghề cho bạn trẻ/thân chủ sẽ là giải pháp bền vững nhất để họ tự tìm hiểu trong đường dài.

Làm sao để làm trắc nghiệm Holland để được kết quả chính xác nhất ở tại thời điểm đó? Cách sử dụng kết quả này để nói chuyện với các bạn trẻ như thế nào?

– Người làm trắc nghiệm Holland đọc kỹ và làm theo hướng dẫn của công cụ trắc nghiệm sở thích Holland. Xem trong hình ở dưới đây:

TRƯỚC khi thực hiện, người thực hiện cần:

  1. Tự nguyện làm công cụ này;
  2. Lắng đọng tinh thần 5 phút để nhẹ nhàng;
  3. Hiểu đây là công cụ tự đánh giá, do đó sẽ vô dụng nếu người thực hiện cố gắng trả lời vì muốn có một hình ảnh tốt đẹp nào đó.
  4. Sẵn sàng tâm trí để là chính mình thật nhất có thể khi làm công cụ này – đừng tự đánh giá, đừng tự chê, đừng tự khen, đừng cố gắng giống ai.
  5. Hoàn thành chỉ tối đa trong 20 phút.

TRONG khi thực hiện, người thực hiện cần:

  • Chọn câu trả lời này đến với mình nhanh và tự nhiên nhất. Càng suy nghĩ thì càng không tốt vì lúc ấy người thực hiện đang suy tính và dùng lý trí để trả lời.

Nắm bắt các lựa chọn trong từng câu mô tả bao gồm:

  1. : Tôi có sở thích ở câu mô tả này
  2. Không: Tôi không có sở thích ở câu mô tả này.
  3. Không rõ: Tôi không hiểu câu mô tả này.

Chú ý: Công cụ này mang tính tham khảo và không thay thế cho một quy trình tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp.

– Link công cụ trắc nghiệm ở đây, https://huongnghiepsongan.com/stnnholland/

Trong Mô hình Phát triển nghề nghiệp theo giai đoạn cuộc đời, 3 giai đoạn đó có bắt buộc phải theo đúng khoảng tuổi đó không ạ? Vì em thấy có những người họ trưởng thành và có nhiều trải nghiệm hơn độ tuổi đang có ạ.

Không nhất thiết phải theo tuổi em nha. Như em nói, có người trưởng thành và có nhiều trải nghiệm hơn độ tuổi đang có, và có người chậm hơn (tới 30 mà vẫn còn đang khám phá). Không có đúng sai em ạ. Em xem câu trả lời cho câu hỏi Lý thuyết Ngẫu nhiên có kế hoạch ở trên nhé. Quan trọng là 1 người nhìn lại để biết vì sao họ đang ở giai đoạn nào, và đang muốn tập trung vào vai trò nào.

Có khi nào Mô hình phát triển nghề nghiệp qua các giai đoạn cuộc đời tạo ra giới hạn khiến chúng ta không dám, không muốn thay đổi? Ví dụ từ lứa tuổi 40 trở lên là thiết lập và duy trì, lúc đó cá nhân sẽ không dám nhảy việc hay đổi việc nữa, vậy với vai trò là CVHN thì mình nên tư vấn như thế nào với những trường hợp này ạ?

Mô hình phát triển nghề nghiệp qua các giai đoạn cuộc đời không hề muốn giới hạn người lao động đâu. Theo thời gian, tác giả đã đính chính rằng những giai đoạn này không cần phải theo tuổi. Thêm vào đó, một người có thể thay đổi giai đoạn ở bất cứ khi nào họ thấy vai trò hiện tại cho phép. Ví dụ, ở tuổi 45, Phoenix bắt đầu khám phá về lĩnh vực công nghệ Thông tin. Hoặc ở tuổi 50, một anh/chị nào đó quyết định khởi nghiệp, vậy là họ đi qua những giai đoạn phát triển, khám phá, thiết lập trong một thời gian ngắn. Chúng ta, CVHN, dùng mô hình này để thân chủ nhìn lại với vai trò hiện tại, họ đang ở giai đoạn nào, và họ tập trung vào điều gì lúc ấy cho hành trình nghề nghiệp của họ. Trong video bài giảng, có đoạn này, “Super thừa nhận trong những bài viết sau này của ông rằng sự trưởng thành trong nghề nghiệp của một người có thể có hoặc không tương ứng với tuổi tác của họ. Mỗi người chúng ta mỗi khi chuyển đổi nghề nghiệp đều đi lập lại từng giai đoạn trên. Ví dụ: ở tuổi 40, khi một người nam/nữ có đầy đủ điều kiện để khởi nghiệp, họ hiểu về giới hạn của bản thân (giai đoạn phát triển), xác định các phần việc cần làm (giai đoạn khám phá), xây dựng kỹ năng mới (giai đoạn thiết lập), cạnh tranh (giai đoạn duy trì), tập trung vào những yếu tố cần thiết (giai đoạn giảm sút).”

Trong Mô hình Phát triển nghề nghiệp theo giai đoạn cuộc đời, 3 giai đoạn đó có bắt buộc phải theo đúng khoảng tuổi đó không ạ? Vì em thấy có những người họ trưởng thành và có nhiều trải nghiệm hơn độ tuổi đang có ạ.

Không nhất thiết phải theo tuổi em nha. Như em nói, có người trưởng thành và có nhiều trải nghiệm hơn độ tuổi đang có, và có người chậm hơn (tới 30 mà vẫn còn đang khám phá). Không có đúng sai em ạ. Em xem câu trả lời cho câu hỏi Lý thuyết Ngẫu nhiên có kế hoạch ở trên nhé. Quan trọng là 1 người nhìn lại để biết vì sao họ đang ở giai đoạn nào, và đang muốn tập trung vào vai trò nào.

Em rất thích phần phân tích “giá trị sống” bởi nó tối ưu hóa những yếu tố bên trong đối với việc hướng nghiệp chủ động và giúp thân chủ tự hướng nghiệp tốt hơn. Khi thân chủ nhận ra những phẩm chất/giá trị mà họ ngưỡng mộ ở hình mẫu nhưng lại không/chưa có ở mình thì CVHN hướng dẫn thân chủ như thế nào ạ?

Định nghĩa giá trị theo Brene Brown là “Giá trị là cách mà ta sống hay là niềm tin vào những điều ta xem trọng nhất. Sống theo giá trị của mình không dừng ở việc phát ngôn những giá trị ấy, mà chúng ta còn phải thực hành chúng. Chúng ta làm những điều chúng ta nói – chúng ta rất rõ ràng về những gì chúng ta tin tưởng và xem trọng, và chúng ta cẩn trọng trong ý định, lời nói, suy nghĩ, và hành vi sao cho chúng luôn nhất quán với những niềm tin ấy.” Một người chỉ có thể khẳng định mình có một giá trị nào đó khi người ấy thực sự “sống và thực hành” giá trị ấy. Bài tập trên để giúp cho 1 cá nhân nhận ra đâu là những “giá trị” mà họ đang “sống và thực hành.” Nếu họ chưa sống và thực hành những phẩm chất họ ngưỡng mộ ở người khác, đó là lúc “mâu thuẫn nội tại” xảy ra, và lúc ấy CVHN sẽ đặt câu hỏi giúp họ nhìn ra mâu thuẫn và suy nghĩ về cách sẽ giải quyết/sống tiếp với mâu thuẫn ấy ra sao. Đối thoại về giá trị thường xảy ra trong những buổi tư vấn hướng nghiệp cá nhân dài và thường xảy ra với người đã đi làm một thời gian.

Vì sao CVHN cần thiết lập giới hạn để không sử dụng Kỹ năng hành vi quan tâm trong tất cả vai trò cuộc sống?

Khi mới học kỹ năng này, mình thường có mong muốn thực hành nói mọi nơi, mọi lúc, mọi đối tượng để rèn luyện và phát triển kỹ năng. Tuy nhiên, hãy cẩn thận vì điều này làm mình mệt lắm. Ví dụ, lên máy bay ngồi cạnh người lạ, gặp người hay thích nói chuyện mà mình thì đang mệt vì say máy bay, và chuyến bay dài 8 tiếng, nếu mình thực hành Kỹ năng Hành vi quan tâm với họ, mình sẽ mệt hơn sau khi xuống máy bay. Hoặc, trong gia đình mình không hợp với chị Hai của mình, mình thử kỹ năng này với chị Hai khi mình chưa vững, mình sẽ nản lòng không muốn sử dụng nó luôn. Ví dụ này kéo dài ra bạn thân, người bán hàng ngoài siêu thị, v.v. Do đó, khi mới tập, hãy tập với đối tượng chuyên nghiệp (ví dụ học sinh, người được tư vấn), sau đó khi vững vàng, mình sẽ làm rộng vòng tròn ra. Và nhớ chỉ làm với đối tượng bên ngoài khi mình thật khỏe cả thể chất lẫn tâm lý nghen. Phoenix có rất nhiều lần mệt/bệnh khi mới vào nghề vì chưa giữ được giới hạn (là điểm yếu của mình và cứ phải học hoài bài học giữ giới hạn này) đó em.

Trong quá trình tham vấn các bạn trẻ, Phoenix có bao giờ gặp trường hợp thân chủ không hành động gì sau khi tham gia tham vấn không? Trong trường hợp này, Phoenix có suy nghĩ và hành động gì?

Có người đồng nghiệp cũ người Mỹ khi nghe mình tham vấn hướng nghiệp cho sinh viên đã nửa đùa nửa thật nói với mình: “Tao biết vì sao trường phải trả lương cao như vậy cho mày rồi Phoenix. Tại vì mày thiệt là kiên nhẫn, có thể ngồi nghe từng ấy vấn đề lặp đi lặp lại với các sinh viên khác nhau hay với cùng sinh viên mà không hề cáu, không hề dán nhãn, không hề áp đặt. Nếu là tao, tao “đá đít” tụi nó ra khỏi phòng tham vấn rồi.” Phoenix nghĩ vậy nè, và đạo đức nghề nghiệp cũng dạy CVHN vậy nè, rằng khi thân chủ đến với mình, trách nhiệm của mình là cùng họ gỡ ra những khúc mắt của họ bằng công cụ, thông tin, trắc nghiệm, lý thuyết, v.v. Mình làm tốt phần này là mình có thể yên lòng rồi. Phần còn lại thuộc về trách nhiệm của họ. Nếu họ chưa làm thì do họ chưa sẵn sàng, mình không nên ép họ, cũng không nên bực họ. Vai trò của mình ở đây là hỗ trợ vô điều kiện, dù họ không làm theo ý mình, mình cũng không ghét bỏ họ. Bên cạnh đó, mình phải giữ giới hạn rất tốt để không làm giúp họ phần việc của họ. Nếu họ quay lại mà chưa làm phần việc của họ, mình nhắc họ mô hình 70-20-10 và cho họ biết mình luôn hỗ trợ họ khi họ làm phần việc của họ. Mục tiêu cuối cùng của giáo dục và tư vấn hướng nghiệp là giúp cho học viên/thân chủ mình đứng được trên đôi chân của họ. Nếu mình giận, bực, ép, áp đặt họ mình không khác những nhân tố khác trong đời họ như ba mẹ, hoặc thầy cô, hoặc ai đó. Phoenix nghĩ khi làm được điều này, 1 người có thể tự hào mình là 1 CVHN xịn. Thái độ và tinh thần này quan trọng vô cùng!

Cần phân biệt các khái niệm ngành, nghề và công việc như thế nào? Ngành đào tạo (trong thị trường đào tạo) khác ngành nghề (trong thị trường lao động) như thế nào?

Theo định nghĩa từ Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (tái bản 2019) thì:

  • Ngành nghề: nghề nghiệp chuyên môn (nói khái quát)
  • Ngành: lĩnh vực hoạt động về chuyên môn, khoa học, văn hóa, kinh tế, v.v.
  • Nghề: công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội

Đặt trong bối cảnh của lĩnh vực hướng nghiệp thì Sông An có lý giải sau:

  • Ngành: có thể hiểu là ngành đào tạo hoặc ngành nghề (industry). Xét ở phần lớn các ngành đào tạo và ngành nghề thì sự khác biệt lớn nhất thường là ngành đào tạo sẽ bao quát hơn (vd: ngành học Marketing có thể dẫn tới rất nhiều nghề/vị trí trong ngành Marketing như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, quan hệ công chúng, v.v.). Tuy nhiên vẫn có trường hợp ngành đào tạo ngách và đặc thù được cắt may theo nhu cầu của một số ngành/nghề rất mới . Quan trọng nhất là cần loại bỏ tư duy chỉ có một đường thẳng nối từ ngành học sang ngành nghề. Bên cạnh việc học thì việc trau dồi năng lực hành nghề và phát triển mạng lưới chuyên nghiệp là điều kiện tiên quyết góp phần nâng cao khả năng được tuyển dụng của một ứng viên.
  • Nghề: một vị trí đã được khái quát (vd: nghề luật sư)/phòng ban cụ thể (vd: nghề kế toán) trong doanh nghiệp/tổ chức, bao gồm (1) các trách nhiệm chính phụ trách xuyên suốt cũng như (2) một số công việc/dự án phát sinh theo giai đoạn. – Trường hợp đặc biệt: với các bộ phận lõi của một doanh nghiệp/tổ chức như Nhân sự, Tài chính/Kế toán, Marketing, Sales, v.v… thì vì sự bao phủ/phổ biến của nó khá rộng nên thường được gọi là ngành nghề hoặc ngành/nghề
Làm sao để học sinh không bị giới hạn tầm nhìn và lựa chọn theo tên của ngành?

Ở vai trò của một chuyên viên hướng nghiệp, chúng ta cần lưu tâm một số điểm sau trong quá trình đồng hành với các em học sinh:
– Khuyến khích các em kiên nhẫn làm các bước trong bài viết Các bước chọn ngành chọn trường hoặc khóa Udemy Tự hướng nghiệp. Các em bây giờ đủ nhanh nhạy và chỉ cần được trang bị đúng phương pháp thì sẽ không dễ lạc lối giữa thời buổi tràn ngập thông tin (vd: nhấn mạnh “ruột nghề”, 3 cách tìm hiểu nghề). Vậy nên lo lắng về việc bị “giới hạn tầm nhìn và lựa chọn theo tên của ngành” có vẻ không còn là vấn đề to tát ở đây nữa.
– Có một xu hướng ở các nước phát triển gọi là giáo dục dựa trên năng lực (competency-based education). Đây được xem là tương lai của thị trường lao động và thị trường đào tạo khi mà ở đó người học/người lao động sẽ được đào tạo và đánh giá liên tục dựa trên năng lực hành nghề của họ thay vì hệ thống bằng cấp/chứng chỉ học một lần rồi đi làm cả đời/học nhiều năm (2-3 năm trở lên) mới tốt nghiệp. Một ví dụ gần gũi dễ hiểu là thay vì học môn Toán để có khả năng giải quyết vấn đề, học môn Văn để có lòng trắc ẩn, v.v. thì nên lật ngược lại vấn đề và đặt câu hỏi là để thành thạo khả năng giải quyết vấn đề hay tăng lòng trắc ẩn thì tôi nên học và trau dồi như thế nào. Do đó, trong bối cảnh Việt Nam khi còn nhiều hạn chế trong bước chuyển từ đi học sang đi làm thì càng phải chú trọng vào giải pháp tự thân như đã được giới thiệu trong Học phần 4.

Có phải mình cần thực hành nhiều và nắm rõ bộ đạo đức hành nghề trước khi vào ca thật để tránh vi phạm đạo đức hành nghề không?

Mình phải vừa thực hành vừa suy ngẫm thì mới thấm được bộ đạo đức hành nghề. Vì vậy, phương án tốt nhất là đi theo hai bước sau:

  • Trước mỗi ca: đọc lại 5 giá trị và 6 quy tắc
  • Sau mỗi ca: suy ngẫm lại xem có chỗ nào không ổn, cần thì đối chiếu lại với bộ quy tắc đạo đức hành nghề.

Do đó, thời gian đầu thực hành, có bạn đồng hành sẽ giúp mình nhiều trong việc biết mình đang thực hành đúng hay sai theo quy tắc đạo đức hành nghề đó em.

Làm thế nào khi tránh rơi vào những trường hợp mình không biết đã vi phạm đạo đức nghề nghiệp?

Đó là lý do mà trong thời gian đầu thực hành, giám sát rất quan trọng. Có giám sát, mình học từ nhóm, từ bạn đồng hành, từ người giám sát cấp cao hơn để xác định có thể mình đã và đang sai ở đâu. Giám sát là cách tốt nhất để giúp mình biết mình cần để ý những cái bẫy nào đó em.

Thông tin để trở thành thành viên của Hội chuyên nghiệp Phát triển nghề nghiệp trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương (APCDA) thì nên xem ở đâu? (hoặc hội khác nếu có)

Mời bạn truy cập https://apcda.wildapricot.org/Other-Countries, sau đó, chọn “Regular Member (not high-income country) – $20.00 (USD)” dành cho các nước không có thu nhập cao, phí là 20 USD/năm.