Học viên Chuyên viên Giáo dục & Tư vấn hướng nghiệp – Các câu hỏi thường gặp

Live Q&A (giải đáp trực tuyến): http://bit.ly/liveQACVHN

Quan điểm của Sông An về việc sử dụng sinh trắc vân tay là như thế nào?

Sông An nhận được nhiều câu hỏi từ chuyên viên hướng nghiệp, cha mẹ, và học sinh về quan điểm chuyên môn của tổ chức trong việc sử dụng sinh trắc vân tay trong các hoạt động giáo dục và tư vấn hướng nghiệp tại Việt Nam. 

Mời anh chị xem chi tiết tại bài viết sau: Bài viết chia sẻ quan điểm về sinh trắc vân tay trong mảng hướng nghiệp

Khi nào gọi là ngành, khi nào gọi là nghề, tiêu chí nào để phân ra cách gọi này?

Theo định nghĩa từ Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì:

  • Ngành nghề: nghề nghiệp chuyên môn (nói khái quát).
  • Ngành: lĩnh vực hoạt động về chuyên môn, khoa học, văn hóa, kinh tế, v.v…
  • Nghề: công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội

Đặt trong bối cảnh của lĩnh vực hướng nghiệp thì Sông An có lý giải sau:

  • Ngành: có thể hiểu là ngành đào tạo hoặc ngành nghề (industry)
  • Nghề: một vị trí đã được khái quát (vd: nghề luật sư)/phòng ban cụ thể (vd: nghề kế toán) trong doanh nghiệp/tổ chức
  • Trường hợp đặc biệt: với các bộ phận lõi của một doanh nghiệp/tổ chức như Nhân sự, Tài chính/Kế toán, Marketing, Sales, v.v… thì vì sự bao phủ/phổ biến của nó khá rộng nên thường được gọi là ngành nghề hoặc ngành/nghề.

Danh mục ngành nghề vs. Chương trình đào tạo:

Danh mục ngành nghề giống như các kệ sách trong thư viện được phân loại và  bao gồm một danh sách các ngành đào tạo (vd: ILO) hoặc ngành nghề (vd: ACT, O*NET) được thu thập đến một thời điểm.

Chương trình đào tạo thì đi chuyên về giáo dục rồi nên sẽ có thể phân loại tùy tình huống. Thông thường, các đào tạo chính quy (formal education) thì thông tin chương trình đào tạo bài bản hơn và gồm các mục mô tả cụ thể (vd: chương trình M.Ed. <https://www.uopeople.edu/programs/ed/degrees/master-of-education-med/overview/>). Tuy nhiên, các khóa ngắn hạn để trau dồi năng lực hành nghề vẫn rất quan trọng (như của LinkedIn (đặc biệt sau khi mua lại Lynda) hay các micro programs như của MIT <https://micromasters.mit.edu/> chẳng hạn).

Lý do hạn chế dùng khái niệm kỹ năng mềm? Hiểu sao cho đúng về kỹ năng mềm?

Thế nào là kỹ năng mềm “soft skill”?

Theo Childtrend (Workforce connections: Key soft skills that foster youth workforce success, Child Trends, June 2015), kỹ năng mềm là sự tổng hòa của các kỹ năng liên quan tới con người, kỹ năng xã hội, giao tiếp; và là nền tảng để ta có thể thích nghi với môi trường, làm việc được với người khác, và thành công trong cuộc sống. 

Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm về kỹ năng mềm cũng chưa thật sự rõ ràng, đôi lúc quá bao quát, đôi lúc quá cụ thể, thỉnh thoảng một số nhà nghiên cứu về nghề nghiệp thay đổi thành các khái niệm tương đương như kỹ năng thiết yếu (essential skills), kỹ năng con người (human skills), kỹ năng nền tảng (foundational skills)… 

Do vậy, nên hầu hết các đơn vị nghiên cứu của các tổ chức lớn như World bank, hay WEF sẽ chọn những khái niệm khác nhau để mô tả về nhóm kỹ năng này.

Ở vai trò chuyên viên, trong mỗi nghiên cứu/tài liệu, chúng ta cần phân tích kỹ năng nào thuộc nhóm kỹ năng chuyên môn, kỹ năng nào là nền tảng/thiết yếu/con người.

Vd1: World Bank

Kỹ năng kỹ thuật liên quan là kỹ năng chuyên môn còn các kỹ năng còn lại là Kỹ năng nền tảng/thiết yếu/con người

Nhóm Nhận thức và Hành vi xã hội là Kỹ năng nền tảng/thiết yếu/con người còn kĩ thuật là kỹ năng chuyên môn

Vd2: bộ kỹ năng sống trong thế kỷ 21 của WEF là kỹ năng nền tảng/thiết yếu/con người.

Vd3: Trong báo cáo Robot ready, human skills là kỹ năng cơ bản/thiết yếu/con người và technical skills là kỹ năng chuyên môn

Vai trò của chuyên viên khi tiếp cận các khái niệm

Dựa vào những ví dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng, việc gom những kỹ năng con người/thiết yếu thành “kỹ năng mềm” (soft skills) hay kỹ năng chuyên môn/kỹ thuật thành “kỹ năng cứng” (hard skills) về cơ bản chỉ là cách đơn giản hoá tên gọi cho các nhóm kỹ năng khác nhau nhưng có tầm quan trọng ngang nhau đối với một người lao động. Tuy nhiên, việc sử dụng từ “kỹ năng mềm” bên cạnh “kỹ năng cứng” vô hình chung làm giảm giá trị và tầm quan trọng của kỹ năng này so với “kỹ năng cứng” và điều này hoàn toàn không phản ánh đúng thực tế. “Mềm” không có nghĩa là không cần thiết, không quan trọng, không mang tính sống còn.

Đã có rất nhiều bài báo, nghiên cứu khẳng định rằng một người thành công là khi họ giỏi cả kỹ năng chuyên môn và kỹ năng con người. Việc rèn luyện kỹ năng con người cũng khó khăn không kém so với việc rèn luyện kỹ năng chuyên môn. Khi mà thế giới ngày càng hội nhập, ngày càng phẳng, việc chỉ có kỹ năng chuyên môn sẽ không để đảm bảo một người lao động hoàn thành tốt việc làm trong môi trường làm việc có tính cộng tác cao, làm việc từ xa (như trong giai đoạn Covid). Và khi có vấn đề xảy ra, thường là do chúng ta hiểu nhầm trong truyền đạt thông tin – kỹ năng giao tiếp, hoặc môi trường làm việc không có tính đoàn kết – kỹ năng làm việc nhóm, hoặc không có khả năng giải quyết vấn đề hài hòa giữa các nhóm khác nhau/hiệu quả – kỹ năng giải quyết vấn đề, hay chưa có tư duy phản biện đối với vấn đề, v.v. hơn là những vấn đề thiên về kỹ thuật/chuyên môn thuần tuý. 

Do vậy, với vai trò là người hướng nghiệp, chúng ta nên cẩn trọng trong việc sử dụng từ, để tránh những sự phân hoá không chính xác của học sinh về tầm quan trọng của các kỹ năng cần thiết để trở thành một người lao động được trang bị toàn diện các kỹ năng trong thị trường lao động đang biến đổi không ngừng.

Khái niệm kỹ năng mềm “soft skill”, dùng có thật sự đúng?

Ngoài ra, CVHN có thể tham khảo thêm bài viết của tác giả Ann Villiers chia sẻ quan điểm của mình về khái niệm kỹ năng mềm “soft skills”. Trong bài viết đó, cô nhắn nhủ CVHN cần lưu ý hoặc thay đổi các từ ngữ liên quan tới kỹ năng mềm mà mình thường sử dụng, cụ thể sử dụng khái niệm kỹ năng mềm:

  • Là không chính xác: Mọi người thường sẽ xem nhẹ vai trò của các kỹ năng “mềm” hơn các kỹ năng “cứng”. Trên thực tế, các nghề nghiệp hoặc công việc trong hiện tại và tương lai đều có sự yêu cầu đồng đều về các kỹ năng mềm/cứng.
  • Là phân biệt giới: Khái niệm “kỹ năng mềm” thường khiến mọi người xem đó là các kỹ năng của nữ giới, thiên về nữ tính. Nhưng thực tế lại cho ta biết kỹ năng mềm đều cần phải xuất hiện ở mọi nhân sự khi phát triển nghề nghiệp.
  • Là thiếu chuyên nghiệp: Khái niệm này thường gây nhiều tranh cãi khi đề cập trong các văn bản chuyên nghiệp. Do đó, CVHN nên cân nhắc dùng các từ thay thế thường được dùng trong các văn bản chuyên môn trong các hiệp hội APCDA hay NCDA.
  • Có thể thay thế thành các từ ngữ khác: Hãy dùng các từ mô tả cụ thể như kỹ năng giao tiếp; kỹ năng xã hội; kỹ năng nâng cao khả năng tuyển dụng (employability skills).

Bài viết đầy đủ tại đường dẫn sau: Why We Should Stop Using ‘Soft’ Skills